Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ VIÊN CHỨC TẠI ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP 1. Khái niệm, vai trò của nâng cao năng lực đội ngũ viên chức tại đơn vị hành chính sự nghiệp 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Đơn vị sự nghiệp công lập Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức 2019 (Luật số 52/2019/QH14 của Quốc hội): “Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý Nhà nước” [20, tr.
“Đơn vị sự nghiệp công lập gồm: + Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ); + Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ). - Hợp đồng làm việc là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa viên chức hoặc người được tuyển dụng làm viên chức với người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, điều kiện làm việc quyền và nghĩa vụ của mỗi bên [20, tr. Viên chức Theo Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức 2019 (Luật số 52/2019/QH14 của Quốc hội) quy định: “Viên chức là những công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, 10 hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [20, tr. Từ định nghĩa trên, đội ngũ viên chức bao gồm những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, phải là công dân Việt Nam.
Thứ hai, về chế độ tuyển dụng: Viên chức phải là người được tuyển dụng theo vị trí việc làm. Theo đó, căn cứ đầu tiên để tuyển dụng viên chức là nhu cầu vị trí việc làm. Ngoài ra, Điều 20 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức 2019 (Luật số 52/2019/QH14 của Quốc hội) quy định cụ thể hơn về chế độ tuyển dụng như sau: “Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập”. [20] Thứ ba, theo khoản 1 Điều 9 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức 2019 (Luật số 52/2019/QH14 của Quốc hội) được hiểu là “…tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý Nhà nước” [20, tr.
“Đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm: - Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ); - Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ). Thứ tư, về thời gian làm việc: Thời gian làm việc của viên chức được tính kể từ khi được tuyển dụng, hợp đồng làm việc có hiệu lực cho đến khi chấm dứt hợp đồng làm việc hoặc đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật 11 Lao động. Thứ năm, về chế độ lao động: Viên chức làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc và hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Điều đó có nghĩa giữa viên chức và bên tuyển dụng có sự thỏa thuận về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên… Hợp đồng làm việc là cơ sở pháp lí để sau này xử lí các việc liên quan đến việc vi phạm quyền hay các vấn đề khác phát sinh giữa hai bên.
Tiền lương của viên chức được nhận từ quỹ của đơn vị sự nghiệp công lập nơi họ làm việc chứ không phải từ Nhà nước. Do vậy, tiền lương mà viên chức nhận được phụ thuộc vào sự thỏa thuận của viên chức và bên tuyển dụng, Nhà nước hầu như không can thiệp vào vấn đề này [20, tr. Năng lực đội ngũ viên chức Trên cơ sở các quan niệm và phân tích trên, ta có thể hiểu định nghĩa năng lực là toàn bộ những đặc tính tâm lý của con người khiến cho nó thích hợp với một hình thức hoạt động nghề nghiệp nhất định đã được hình thành trong quá trình phát triển lịch sử. Năng lực của con người là tổng hợp những kinh nghiệm được truyền lại nhờ cơ chế di truyền sinh vật và kinh nghiệm cá thể.
Nói một các tổng quát năng lực của con người chính là sản phẩm của sự phát triển xã hội. Do vậy nếu tách rời môi trường hoạt động thực tiễn của xã hội thì không thể có năng lực thật sự của cá nhân. Sự hình thành năng lực con người chính là sự đòi hỏi của cá thể con người phải nắm được các hình thức hoạt động mà loài người đã tạo ra trong quá trình vận động, phát triển của xã hội. Vì vậy năng lực của mỗi con người không chỉ do hoạt động của bộ não con người quyết định mà trước hết là do trình độ phát triển của xã hội mà loài người đã đạt được.
Theo ý nghĩa đó năng lực của mỗi con người luôn gắn liền và không thể tách rời với tổ chức lao động xã hội, với hệ thống giáo dục và 12 môi trường mà mỗi con người đó hoạt động. Kết cấu của khung năng lực viên chức: Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức 2019 thì: “Khung năng lực là bảng mô tả tổ hợp các kiến thức, kỹ năng, thái độ và đặc điểm cá nhân cần để hoàn thành tốt công việc.” [20] Năng lực chung: là những phẩm chất, đặc tính cần phải có ở một viên chức. Đây là những năng lực cần thiết cho tất cả các vị trí, được xác định dựa trên giá trị cốt lõi của nền hành chính công, gồm: đạo đức và trách nhiệm công vụ; tổ chức thực hiện công việc; soạn thảo và ban hành văn bản; giao tiếp ứng xử; quan hệ phối hợp; sử dụng công nghệ thông tin. Năng lực quản lý: là những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho từng vị trí cụ thể trong một cơ quan, đơn vị và được xác định dựa vào nhiệm vụ, hoạt động cụ thể của vị trí, như: xác định tầm nhìn và tư duy chiến lược; quản lý sự thay đổi; ra quyết định; quản lý nguồn lực; phát triển nhân viên.
Năng lực chuyên môn: bao gồm những kiến thức, kỹ năng về một lĩnh vực chuyên môn cụ thể cần thiết để hoàn thành công việc theo đặc thù của từng ngành nghề, lĩnh vực. Mỗi năng lực được phân chia thành các cấp bậc từ thấp đến cao. Việc phân chia mức độ năng lực dựa trên mức độ phức tạp, độ thành thạo và quy mô, phạm vi triển khai của năng lực. Người có cấp độ năng lực cao được mặc định là đáp ứng được yêu cầu của những cấp độ năng lực thấp hơn.
Để thực thi hoạt động quản lý hành chính Nhà nước đội ngũ viên chức cần phải có các kiến thức kỹ năng về hành chính Nhà nước và các kiến thức chuyên môn trong quá trình tiến hành các hoạt động quản lý tại đơn vị hành chính sự nghiệp. Kiến thức của họ còn được trang bị thông qua các loại hình đào tạo (từ Trung cấp đến Đại học) bồi dưỡng và tự học, còn kỹ năng hành chính là khả năng vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể 13 lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng, được hình thành trong quá trình học tập, rèn luyện và thực thi nhiệm vụ. Năng lực nói chung và năng lực quản lý hành chính Nhà nước nói riêng không phải là tư chất bẩm sinh của con người, tự động đảm bảo cho con người đạt kết quả trong hoạt động nào đó. Năng lực là sự kết hợp những tư chất tự nhiên vốn có của con người và kết quả hoạt động của người đó.
Thêm vào đó đội ngũ viên chức cũng cần có thái độ đúng mức đối với công việc được giao, bởi thái độ làm việc có tầm quan trọng nhất định, ảnh hưởng đến năng lực của đội ngũ viên chức. Nhiều viên chức có trình độ, có kỹ năng nhưng do thái độ không tốt (cẩu thả, chủ quan, thiếu ý thức trách nhiệm, hách dịch, cố tính làm sai trái vì lợi ích cá nhân) nên vẫn không hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Nhưng nếu đội ngũ viên chức còn nhiều hạn chế về năng lực và trình độ nhưng làm việc tích cực trong quá trình thực thi công việc thì vẫn có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.3] Như vậy, theo khái niệm trên thì năng lực đội ngũ viên chức không chỉ có trình độ văn hoá, năng lực nghề nghiệp mà nó còn phải là sự tổng hợp của nhiều yếu tố đó là kỹ năng chuyên môn, phẩm chất đạo đức của viên chức. Hay nói cách khác năng lực đội ngũ viên chức là tổng hợp của ba yếu tố đó là: Kiến thức, kỹ năng chuyên môn; kỹ năng quản lý; và phẩm chất cá nhân.
Nâng cao năng lực đội ngũ viên chức Theo Từ điển Tiếng Việt “nâng cao” được hiểu là đưa lên cao hay nâng cao mức cao hơn. Như vậy có thể hiểu nâng cao năng lực đội ngũ viên chức có nghĩa nâng chất lượng lên cao hơn so với mức hiện tại. Năng lực đội ngũ viên chức được cấu thành bởi chất lượng của từng viên chức trong đơn vị hành chính sự nghiệp, cũng như thể hiện sức mạnh tập thể của đội ngũ viên chức trong đơn vị hành chính sự nghiệp đó. 14 Do vậy để nâng cao năng lực đội ngũ viên chức, trước hết phải xuất phát từ việc nâng cao các yếu tố thành phần cấu thành nên năng lực đội ngũ viên chức như kiến thức, kỹ năng và thái độ.