Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp Chương 3: Thực trạng, cơ hội và thách thức trong hoạt động xuất khẩu hàng rau củ quả sang thị trường Nhật Bản của công ty TNHH Thương Mại và XNK Tre Việt Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh xuất nhập khẩu hàng rau củ quả sang thị trường Nhật Bản của công ty TNHH Thương Mại và XNK Tre Việt 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP 2. Một số khái niệm cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 2. Khái niệm cạnh tranh Thuật ngữ cạnh tranh được sử dụng khá phổ biến, nó được hiểu như là sự ganh đua, đấu tranh giữa các chủ thể nhằm đạt được một mục đích nhất định nào đó. Tuy nhiên do từng thời kì kinh tế và cách tiếp cận khác nhau nên có nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh.
Trước đây các nhà nghiên cứu cho rằng cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật điều kiện thuận lợi trong sản xuất và kinh doanh hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch. Trong thời kì chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, dưới chế độ phong kiến và tiền tư bản, cạnh tranh được xem là các hoạt động chèn ép nhau, dùng mọi mưu kế, quyền thế nhằm tạo thế độc tôn trên thị trường. Ngày nay quan điểm cạnh tranh có nhiều thay đổi, nhiều quốc gia cho rằng hàng hóa hay sản phẩm cạnh tranh tốt trên thị trường như là một động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao mức sống và tăng phúc lợi cho người dân, các doanh nghiệp tạo ra nhiều hàng hóa chất lượng cao, thỏa mãn được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng thì sẽ phát triển. Do đó, các quốc gia và doanh nghiệp đều cố gắng huy động và sử dụng hợp lý các nguồn lực sản xuất, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa.
Cạnh tranh là quy luật tất yếu của sản xuất hàng hóa dịch vụ, đòi hỏi các doanh nghiệp phải kiên trì nâng cao năng suất sản xuất bằng cách nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến kĩ thuật sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất. Khi một nước trực tiếp tham gia cạnh tranh quốc tế thì tiêu chuẩn về hàng hóa dịch vụ không còn là tiêu cuẩn trong nước mà là tiêu chuẩn quốc tế. Vì vậy các doanh nghiệp trong nước không chỉ phải cạnh tranh với nhau mà còn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài. Xét theo quan điểm tổng hợp, cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó chủ thể kinh tế ganh đua nhau để dạt được mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất.
Khái niệm năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh (hay “khả năng cạnh tranh”, “tính cạnh tranh”) là sức mạnh tương đối của một chủ thể kinh tế trong tương quan với các chủ thể kinh tế khác. Năng lực cạnh tranh (Competitiveness) là những yếu tố thể hiện năng lực thực có và những ưu điểm, lợi thế của chủ thể kinh doanh so với các đối thủ cạnh tranh khác. Mục đích của việc này là đưa ra sự phục vụ tốt nhất làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và mang về nguồn lợi nhuận cao. Để đánh giá độ hiệu quả của năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, người ta sẽ dựa vào các tiêu chí sau đây: • Danh tiếng và thương hiệu: Đây sẽ là điều kiện để kích thích khách hàng nhanh chóng đặt mua sản phẩm.
Và có được điều này, thị phần của bạn cũng tăng lên đáng kể. • Hiệu quả sản xuất kinh doanh: Để đánh giá tiêu chí này, người ta sẽ dựa vào hai yếu tố đó chính là: năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Năng suất lao động của doanh nghiệp càng cao thì năng lực cạnh tranh càng lớn. Còn về chất lượng sản phẩm tốt sẽ là yếu tố để mang lại sự cạnh tranh cao nhất.
• Thị phần và khả năng chiếm lĩnh thị trường: Đây là một trong những tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp. Thị phần càng lớn càng sản phẩm của doanh nghiệp càng được ưa chuộng. • Để phát triển thị phần doanh nghiệp cần phải tiến hành xúc tiến thương mại, tổ chức các dịch vụ đi kèm, cung cấp sản phẩm uy tín, chất lượng. • Trách nhiệm xã hội: Để chiếm được lòng tin của khách hàng cũng như có năng lực cạnh tranh cao, các sản phẩm của doanh nghiệp phải đảm bảo không gây ô nhiễm.
Bên cạnh đó, sản phẩm phải được cấp chứng chỉ an toàn môi trường theo ISO.14000 hoặc theo tiêu chuẩn khu vực hoặc tiêu chuẩn Việt Nam 2. Các cấp độ cạnh tranh Năng lực cạnh tranh được chia thành ba cấp độ khác nhau gồm: cấp quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm, hàng hóa. Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia Năng lực cạnh tranh quốc gia được hiểu là dựa trên các trụ cột của một quốc gia của một diễn đàn kinh tế nổi tiếng thì năng lực cạnh tranh quốc gia là một hệ thống các 6 thể chế, chính sách, quy định tạo nên mức sản lượng của một quốc gia. Nói cách khác, một nền kinh tế cạnh tranh thì có xu hướng có thể đem tới mức thu nhập cao hơn cho các công dân của mình, tỷ lệ tái đầu tư lớn hơn và do đó có thể phát triển nhanh hơn trong tương lai trung và dài hạn.
Như vậy, năng lực cạnh tranh của quốc gia là khả năng của một đất nước sau khi thực hiện các công việc trong một quá trình dài thì đạt được những vượt trội, bền vững, nhanh chóng về mức sống. Hoặc có thể hiểu qua những giá trị, mức sống, nguồn thu nhập của người dân tại quốc gia đó. Nhiều quan điểm còn cho rằng năng lực cạnh tranh của quốc gia còn được thể hiện qua hiệu suất sản xuất của quốc gia đó. Và nguồn tác động vào năng lực này chính là dựa vào nguồn nhân lực, nguồn vốn và nguồn tài nguyên của quốc gia hoặc những chính sách hỗ trợ hoạt động đầu tư, thu hút nguồn đầu tư nước ngoài.
Năng lực cạnh tranh cấp ngành Cạnh tranh giữa các ngành còn được coi là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi nhuận hơn và kết quả là tạo ra lợi nhuận nhiều hơn. Khi một sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp được sử dụng hay tiêu thụ nhiều sẽ góp phần làm cho tỷ lệ cạnh tranh ngành của sản phẩm, dịch vụ đó được tăng theo và kéo theo năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng sẽ tăng theo không chỉ trong thị trường trong nước mà sang cả các nước trên thế giới. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp thể hiện qua khả năng sinh lời của đồng vốn mà doanh nghiệp đã đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Đa số năng lực cạnh tranh ở cấp độ này được thể hiện qua khả năng lợi nhuận, chi phí, năng suất sản xuất và thị phần.
Và yếu tố tác động vào năng lực này chính là quản trị nhân lực, tài chính, phòng kinh doanh, những kiến thức về mặt công nghệ, khả năng lường trước được nhu cầu của thị trường. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cụ thể như sau: Năng suất lao động: Đây được xem là yếu tố góp phần quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Năng lực lao động được tính dựa trên các số liệu thống kê về số lượng sản phẩm, giá trị tạo ra trong một khoảng thời gian xác định. Để có được 7 năng suất lao động người quản lý doanh nghiệp đã phải lựa chọn, đào tạo người lao động, trình độ quản lý của các cán bộ cấp cao và trình độ phát triển công nghệ của doanh nghiệp.
Thị phần: Thị phần là yếu tố vô cùng quan trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Mỗi một doanh nghiệp sẽ có một thị phần nhất định, thị phần của doanh nghiệp là phần của doanh nghiệp là phần thị trường mà doanh nghiệp đó chiếm lĩnh trên tổng thị trường kinh doanh. Thương hiệu doanh nghiệp: Chúng ta vẫn thường hay nghe đến nhiều thương hiệu nổi tiếng và đa số những thương hiệu đó đã trải qua thời gian xây dựng khá lâu và được nhiều người quan tâm. Trong giai đoạn công nghệ phát triển như ngày nay thì khi các sản phẩm dịch vụ có thương hiệu lại càng được chú ý và lan truyền mạnh mẽ.
Khi sản phẩm, dịch vụ được nhiều người quan tâm và được sự tin tưởng từ khách hàng và công chúng thì doanh nghiệp đó càng có năng lực cạnh tranh cao trên thị trường. Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận: Một điểm thu hút được nhiều nhà đầu tư và sự quan tâm của nhiều người đó chính là lợi nhuận, phần doanh thu còn lại sau khi đã trừ đi tất cả các khoản chi phí trong doanh nghiệp. Còn tỷ suất lợi nhuận đó chính là hiệu quả sử dụng nguồn vốn trên mức lợi nhuận tạo ra. Chính vì vậy, khi một doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận và lợi nhuận cao thì doanh nghiệp đó đã có năng lực cạnh tranh càng lớn trên thị trường.
Việc có năng lực cạnh tranh đã giúp cho doanh nghiệp tạo ra các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, hấp dẫn khách hàng mục tiêu; Giúp doanh nghiệp thu được nhiều doanh thu và lợi nhuận hơn và cải thiện vị trí, vị thế của mình trên thị trường so với các đối thủ cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh cấp sản phẩm, hàng hóa Năng lực cạnh tranh của sản phẩm được xác định bằng phần trăm thị phần của sản phẩm trên thị trường. Các nhà nghiên cứu sẽ xem xét đánh giá năng lực sản phẩm dựa trên chi phí và năng suất sản xuất của doanh nghiệp đó so với đối thủ cạnh tranh. Một số lý thuyết về hoạt động nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phầm của doanh nghiệp 2.
Khái niệm về năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp a.