phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng về khả năng cạnh tranh của Chi nhánh Viettel Bắc Kạn. Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh cho Chi nhánh Viettel Bắc Kạn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Cơ sở lý luận về khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp 1. Một số vấn đề lý thuyết về khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp 1. Khái niệm về cạnh tranh Theo Các Mác: Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tƣ bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu đƣợc những lợi nhuận siêu ngạch (Các Mác, 1978). Theo cuốn từ điển rút gọn về kinh doanh đã định nghĩa nhƣ sau: Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trƣờng nhằm giành giật cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình (Adam, 1993).
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động ganh đua giữa những ngƣời sản xuất hàng hóa, giữa các thƣơng nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trƣờng, chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trƣờng có lợi nhất (Từ điển Bách khoa, 1995) Cạnh tranh (Competition) hiểu theo cấp độ Doanh nghiệp, là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các Doanh nghiệp. Tuy nhiên, bản chất của cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là Doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để khách hàng có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh. Theo Samuelson: Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trƣờng (Samuelson, 2000). Từ các định nghĩa trên chúng ta thấy có thể tiếp cận về cạnh tranh nhƣ sau:Thứ nhất: Nói đến cạnh tranh là nói đến ganh đua nhằm lấy phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự.
Thứ hai: Mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tƣợng cụ thể nào đó mà các bên đều muốn giành giật, mục đích cuối cùng là kiếm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 5 đƣợc lợi nhuận cao. Thứ ba: Cạnh tranh diễn ra trong một môi trƣờng cụ thể, có các ràng buộc chung mà các bên tham gia phải tuân thủ. Thứ tư: Trong quá trình cạnh tranh các chủ thể tham dự quá trình cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau: Cạnh tranh bằng đặc tính và chất lƣợng sản phẩm, cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm… Từ những nhận định trên, khái niệm cạnh tranh trong kinh doanh có thể hiểu nhƣ sau: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt đƣợc mục tiêu kinh tế của mình, thông thƣờng là chiếm lĩnh thị trƣờng, giành lấy khách hàng, cũng nhƣ các điều kiện sản xuất, thị trƣờng có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích.
Đối với ngƣời sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với ngƣời tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi. Khái niệm về khả năng cạnh tranh * Khả năng cạnh tranh: Khả năng cạnh tranh là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt đƣợc một số kết quả mong muốn dƣới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lƣợng các sản phẩm cũng nhƣ năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trƣờng hiện tại và làm nảy sinh thị trƣờng mới. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thõa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao. Nhƣ vậy, khả năng canh tranh của doanh nghiệp trƣớc hết phải đƣợc tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp.
Đấy là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ đƣợc tính băng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp,… một cách riêng biệt mà đánh giá, so sánh với các đối thủ cạnh tranh hoạt động trên cùng lĩnh vực, cùng một thị trƣờng. Có quan điểm cho rằng, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ƣu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đƣa ra thị trƣờng. Có quan điểm gắn khả Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 6 năng cạnh tranh của doanh nghiệp với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh,… Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào thực lực và lợi thế của mình e chƣa đủ, bởi trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, lợi thế bên ngoài đôi khi là yếu tố quyết định. Thực tế chứng minh một số doanh nghiệp rất nhỏ, không có lợi thế nội tại, thực lực bên trong yếu nhƣng vẫn tồn tại và phát triển trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt nhƣ hiện nay.
Nhƣ vậy, “khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm – dịch vụ hấp dẫn ngƣời tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu đƣợc lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trƣờng ”. Khả năng cạnh tranh thể hiện ở việc làm tốt hơn với các công ty so sánh (các đối thủ) về doanh thu, thị phần, khả năng sinh lời và đạt đƣợc thông qua các hành vi chiến lƣợc, đƣợc định nghĩa nhƣ là một tập hợp các hành động tiến hành để tác động tới môi trƣờng nhờ đó làm tăng lợi nhuận công ty, cũng nhƣ bằng những công cụ marketing khác. Nó cũng đạt đƣợc thông qua việc nâng cao chất lƣợng sản phẩm mà sự sáng tạo sản phẩm là những khía cạnh rất quan trọng của quá trình cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh là một trong những quan điểm chƣa có sự thống nhất, nói đến năng lực cạnh tranh phải nói đến chủ thể cạnh tranh, do đó không có khái niệm năng lực cạnh tranh nói chung.
Tác giả Michael Porter cũng thừa nhận không thể đƣa ra một khái niệm tuyệt đối về năng lực cạnh tranh. Theo ông, “Để có thể cạnh tranh thành công, các doanh nghiệp phải có đƣợc lợi thế cạnh tranh dƣới hình thức hoặc là có đƣợc chi phí sản phẩm thấp hơn hoặc là có khả năng khác biệt hóa sản phẩm để đạt đƣợc những mức giá cao hơn trung bình. Để duy trì lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp ngày càng đạt đƣợc những lợi thế cạnh tranh tinh vi hơn, qua đó có thể cung cấp những hàng hóa hay dịch vụ có chất lƣợng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu suất cao hơn” (Michael, 1990). Quan niệm của Porter đã đề cập đến vấn đề cạnh tranh còn bao hàm cả việc doanh nghiệp phải duy trì liên tục lợi thế cạnh tranh của mình.
* Khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 7 Theo Aldington Report (1985): Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lƣợng vƣợt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ cạnh tranh trong nƣớc và quốc tế. Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt đƣợc lợi ích lâu dài của Doanh nghiệp và khả năng đảm bảo cho ngƣời lao động và chủ Doanh nghiệp. Năm 1998, Bộ Thƣơng mại và Công nghiệp nƣớc Anh đƣa ra định nghĩa: Đối với Doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả vào đúng thời điểm. Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả cao hơn các doanh nghiệp khác.
Tổng hợp từ các tài liệu trong và ngoài nƣớc, có nhiều quan niệm về năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp, cụ thể nhƣ sau: - Năng lực của Doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của Doanh nghiệp. Theo quan niệm này, năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với các đối thủ và khả năng thu lợi của các doanh nghiệp, quan niệm nhƣ vậy có thể gặp trong các công trình nghiên cứu của Meha (1998), Ramasamy (1995), Bruckley (1991), Schealbach (1989) hay ở trong nƣớc nhƣ kết quả nghiên cứu của CIEM (2003), Viện nghiên cứu quản lý Trung ƣơng (2003), Ủy quan Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế (2003). Quan niệm này tƣơng đồng với cách tiếp cận thƣơng mại truyền thống (Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế, 2003). Quan điểm này chƣa bao hàm các phƣơng thức, các yếu tố duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh, chƣa phản ánh một cách bao quát năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp.
- Khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp là khả năng chống chịu trƣớc sự tấn công của các Doanh nghiệp khác. Hội đồng Chính sách năng lực cạnh tranh của Mỹ đƣa ra định nghĩa: Năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hóa và dịch vụ của một nền sản xuất có thể vƣợt qua thử thách trên thị trƣờng thế giới. Ủy ban Quốc gia về hợp tác quốc tế có trích dẫn khái niệm cạnh tranh theo Từ điển thuật ngữ chính sách thƣơng mại (1997). Theo đó, năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế.
Quan niệm về năng lực cạnh tranh nhƣ vậy mang tính chất định tính, khó có thể định lƣợng đƣợc. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 8 - Năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động. Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp tức là sản xuất và thu nhập tƣơng đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các DN phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế (Bạch Thụ Cƣờng, 2002). Tuy nhiên quan niệm này chƣa gắn với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của Doanh nghiệp.