Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh ngành vận tải biển Việt Nam

Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh ngành vận tải biển Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế. Giải pháp & phân tích chuyên sâu.

Chuyên ngành

Kinh tế đối ngoại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2010

113
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh năng lực cạnh tranh ngành vận tải biển Việt Nam

Ngành vận tải biển đóng vai trò huyết mạch trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt với một quốc gia có đường bờ biển dài như Việt Nam. Theo thống kê, vận tải đường biển đảm nhận khoảng 80% lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, là cầu nối quan trọng đưa hàng Việt ra thế giới và ngược lại. Sự phát triển của ngành hàng hải Việt Nam có mối quan hệ biện chứng với tăng trưởng kinh tế: kinh tế phát triển thúc đẩy nhu cầu vận tải, và ngược lại, một hệ thống vận tải biển hiệu quả sẽ tạo đà cho ngoại thương và hội nhập. Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng tham gia sâu rộng vào chuỗi cung ứng toàn cầu thông qua các Hiệp định thương mại tự do (FTA), việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành vận tải biển không còn là lựa chọn mà là yêu cầu cấp thiết. Năng lực cạnh tranh của ngành được đánh giá qua nhiều tiêu chí như chất lượng dịch vụ, giá cước, thời gian vận chuyển, độ tin cậy và đặc biệt là thị phần. Một ngành được xem là có năng lực cạnh tranh khi có khả năng duy trì lợi nhuận và thị phần ổn định trên cả thị trường nội địa và quốc tế. Mặc dù sở hữu nhiều lợi thế về vị trí địa lý và nguồn nhân lực, năng lực cạnh tranh của ngành vận tải biển Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế khi so sánh với các quốc gia trong khu vực.

1.1. Vai trò chiến lược trong nền kinh tế quốc dân

Vận tải biển không chỉ là hoạt động di chuyển hàng hóa mà còn là công cụ đắc lực thúc đẩy thương mại quốc tế. Nó góp phần thay đổi cơ cấu hàng hóa và thị trường, đồng thời tác động trực tiếp đến cán cân thanh toán quốc tế. Một đội tàu biển quốc gia mạnh mẽ giúp tăng nguồn thu ngoại tệ từ dịch vụ chở thuê và tiết kiệm chi phí khi không phải thuê tàu nước ngoài. Thực tế tại nhiều quốc gia hàng hải phát triển cho thấy, thu nhập từ đội tàu buôn có thể bù đắp đáng kể cho thâm hụt cán cân thương mại. Đối với Việt Nam, phát triển vận tải biển là một phần không thể tách rời trong chiến lược phát triển kinh tế biển, nhằm khai thác tối đa tiềm năng và lợi thế của một quốc gia ven biển.

1.2. Các tiêu chí cốt lõi đánh giá năng lực cạnh tranh

Để đánh giá chính xác khả năng cạnh tranh của đội tàu và toàn ngành, cần dựa trên các tiêu chí cụ thể. Chất lượng phục vụ là yếu tố hàng đầu, thể hiện qua việc đảm bảo hàng hóa an toàn, không hư hỏng, hao hụt. Giá cả, hay giá cước, là yếu tố cạnh tranh trực tiếp, phụ thuộc vào chi phí khai thác và quan hệ cung cầu. Thời gian vận chuyển và độ tin cậy (giao hàng đúng hẹn, thủ tục nhanh chóng) cũng là những chỉ số quan trọng. Cuối cùng, thị phần vận tải xuất nhập khẩu là thước đo rõ ràng nhất về vị thế của ngành. Một doanh nghiệp hay một quốc gia có thị phần lớn chứng tỏ năng lực cạnh tranh mạnh và chiếm được lòng tin của khách hàng.

II. Thách thức lớn kìm hãm năng lực cạnh tranh vận tải biển

Mặc dù có những bước tiến nhất định, ngành vận tải biển Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức và tồn tại cố hữu, làm suy giảm năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Vấn đề lớn nhất nằm ở đội tàu biển quốc gia. Theo tài liệu nghiên cứu, dù số lượng tàu không ít (970 tàu, xếp thứ 4/11 ASEAN tại thời điểm 2010), nhưng đội tàu Việt Nam còn manh mún, quy mô trung bình nhỏ, tuổi tàu cao và đặc biệt thiếu các loại tàu chuyên dụng hiện đại như tàu container sức chở lớn, tàu chở khí hóa lỏng (LNG), tàu chở hóa chất. Điều này dẫn đến việc đội tàu trong nước chỉ đáp ứng được khoảng 13% khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, phần lớn thị phần rơi vào tay các hãng tàu nước ngoài. Bên cạnh đó, hệ thống cảng biển Việt Nam dù đã được đầu tư nhưng vẫn chưa đáp ứng kịp nhu cầu. Nhiều cảng được xây dựng sâu trong sông, luồng lạch bị hạn chế, gây khó khăn cho tàu trọng tải lớn ra vào. Trang thiết bị bốc xếp tại nhiều cảng còn lạc hậu, làm kéo dài thời gian giải phóng tàu và tăng chi phí.

2.1. Hạn chế về năng lực cạnh tranh của đội tàu Việt Nam

Thực trạng cho thấy khả năng cạnh tranh của đội tàu Việt Nam còn yếu. Quy mô trung bình của đội tàu Việt Nam nhỏ hơn đáng kể so với các nước trong khu vực ASEAN. Tuổi tàu trung bình cao (Hình 2.3 trong luận văn) dẫn đến chi phí bảo dưỡng, sửa chữa lớn, tiêu hao nhiều nhiên liệu và không đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng khắt khe về an toàn và môi trường. Sự thiếu hụt tàu chuyên dụng, đặc biệt là tàu container, khiến Việt Nam mất lợi thế trên các tuyến vận tải đường dài. Do đó, dù lượng hàng hóa xuất nhập khẩu qua cảng biển Việt Nam rất lớn, các doanh nghiệp vận tải biển trong nước vẫn gặp khó trong việc giành được hợp đồng vận chuyển, nhất là các lô hàng giá trị cao.

2.2. Bất cập trong hệ thống hạ tầng và dịch vụ logistics

Một điểm nghẽn lớn khác là hạ tầng giao thông kết nối giữa cảng biển và các trung tâm sản xuất, tiêu thụ nội địa còn yếu kém. Điều này làm tăng thời gian và chi phí logistics, giảm sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam. Các dịch vụ logistics hàng hải đi kèm như kho bãi, thủ tục hải quan, kiểm đếm, giao nhận... chưa thực sự đồng bộ và chuyên nghiệp. Chi phí bốc xếp, hoa tiêu, lai dắt tại cảng Việt Nam bị đánh giá là khá cao so với các nước trong khu vực, tạo thêm gánh nặng cho chủ hàng và chủ tàu.

III. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh Hiện đại hóa đội tàu

Để giải quyết bài toán thị phần và nâng cao vị thế trên trường quốc tế, giải pháp trọng tâm đầu tiên là phải tập trung vào việc tái cơ cấu và phát triển đội tàu. Chiến lược này cần được thực hiện một cách đồng bộ, từ việc trẻ hóa đội tàu đến đầu tư vào các loại tàu chuyên dụng có giá trị gia tăng cao. Hiện đại hóa đội tàu không chỉ đơn thuần là mua sắm tàu mới, mà còn là việc áp dụng các công nghệ quản lý, vận hành tiên tiến để tối ưu hóa hiệu quả khai thác. Chính phủ cần có những chính sách phát triển kinh tế biển đột phá, tạo điều kiện về vốn vay ưu đãi, miễn giảm thuế cho các doanh nghiệp đầu tư phát triển đội tàu, đặc biệt là các tàu container, tàu chở dầu/hóa chất, tàu hàng rời cỡ lớn. Việc phát triển một đội tàu mạnh không chỉ giúp giành lại thị phần vận tải xuất nhập khẩu mà còn đảm bảo an ninh kinh tế và chủ động trong vận chuyển hàng hóa chiến lược của quốc gia. Song song với phát triển đội tàu, việc đầu tư xây dựng và nâng cấp hệ thống cảng biển Việt Nam là yếu tố không thể tách rời.

3.1. Phát triển đội tàu chuyên dụng và vận tải container

Xu hướng container hóa là tất yếu trong thương mại toàn cầu. Do đó, việc đầu tư phát triển đội tàu chuyên chở container là nhiệm vụ cấp bách. Điều này giúp các doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia vào các tuyến vận tải xa, kết nối trực tiếp với các thị trường lớn như châu Âu, Bắc Mỹ mà không phải phụ thuộc vào các hãng tàu nước ngoài. Việc sở hữu đội tàu vận tải container hiện đại sẽ giúp giảm chi phí, rút ngắn thời gian vận chuyển và nâng cao tính chủ động cho các nhà xuất nhập khẩu Việt Nam.

3.2. Quy hoạch cảng nước sâu và cảng trung chuyển quốc tế

Để đón được các tàu mẹ có sức chở lớn, Việt Nam cần tập trung nguồn lực đầu tư vào các cảng nước sâu. Các cảng này phải được quy hoạch tại những vị trí địa lý thuận lợi, kết nối tốt với mạng lưới giao thông quốc gia. Xa hơn, việc hình thành một cảng trung chuyển quốc tế tầm cỡ khu vực sẽ là một bước đột phá. Một cảng trung chuyển thành công sẽ thu hút được các hãng tàu lớn trên thế giới, biến Việt Nam thành một mắt xích quan trọng trong mạng lưới hàng hải toàn cầu, thay vì chỉ là thị trường gom hàng cho các cảng lớn trong khu vực như Singapore hay Hong Kong.

IV. Hướng đi chiến lược Chính sách và nguồn nhân lực vận tải biển

Bên cạnh các giải pháp về hạ tầng và phương tiện, yếu tố con người và thể chế chính sách đóng vai trò quyết định đến sự thành công bền vững của ngành vận tải biển. Một chiến lược phát triển vận tải biển toàn diện phải bao gồm các cơ chế, chính sách hỗ trợ từ nhà nước và một kế hoạch phát triển nguồn nhân lực hàng hải chất lượng cao. Nhà nước cần tạo ra một hành lang pháp lý thông thoáng, minh bạch, giảm bớt các thủ tục hành chính không cần thiết, đồng thời có chính sách ưu đãi cụ thể để thu hút đầu tư vào ngành. Đặc biệt, trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số trong ngành hàng hải là xu hướng không thể đảo ngược. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý cảng (Port Community System), quản lý đội tàu, và các dịch vụ logistics sẽ giúp tối ưu hóa vận hành, giảm chi phí và nâng cao tính minh bạch. Đây là chìa khóa để ngành hàng hải Việt Nam bắt kịp với trình độ của thế giới.

4.1. Hoàn thiện chính sách pháp luật và cơ chế hỗ trợ

Vai trò của nhà nước là kiến tạo môi trường kinh doanh thuận lợi. Cần rà soát và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến hàng hải, đảm bảo tính tương thích với các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Các chính sách hỗ trợ cần thực chất hơn, ví dụ như chính sách tín dụng cho doanh nghiệp đóng mới hoặc mua tàu, chính sách thuế ưu đãi đối với hàng hóa vận chuyển bằng tàu treo cờ Việt Nam, và các biện pháp bảo hộ hợp lý để tạo điều kiện cho đội tàu biển quốc gia phát triển trong giai đoạn đầu.

4.2. Nâng cao chất lượng đào tạo thuyền viên và nhân lực quản lý

Con người là yếu tố cốt lõi. Chất lượng nguồn nhân lực hàng hải hiện nay vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Cần phải đổi mới toàn diện công tác đào tạo thuyền viên, từ chương trình giảng dạy, cơ sở vật chất thực hành đến trình độ ngoại ngữ và kỹ năng mềm. Bên cạnh đó, việc đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, khai thác tàu, và chuyên gia logistics có tầm nhìn chiến lược và trình độ chuyên môn cao là vô cùng quan trọng để có thể vận hành hiệu quả một hệ thống vận tải biển hiện đại và cạnh tranh sòng phẳng với các đối thủ quốc tế.

26/09/2025
Luận văn thạc sĩ nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành vận tải biển việt nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành vận tải biển Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành vận tải biển Việt Nam. Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành vận tải biển Việt Nam 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH VẬN TẢI BIỂN VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1. LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Khái niệm cạnh tranh và các loại hình cạnh tranh 1.

Khái niệm cạnh tranh Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là hiện tượng phổ biến và có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế ở các quốc gia. Việc nghiên cứu hiện tượng cạnh tranh đã từ rất sớm với các các trường phái nổi tiếng như: lý thuyết cạnh tranh cổ điển, lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển và lý thuyết cạnh tranh hiện đại. Trong kinh tế, đã từng có khái niệm nổi tiếng về cạnh tranh trong chế độ tư bản chủ nghĩa do Các Mác đưa ra, đó là: “Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu lợi nhuận siêu ngạch”. Tuy nhiên khái niệm này mới chỉ đề cập đến cạnh tranh trong xã hội tư bản chủ nghĩa với đặc trưng điển hình là chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất do đó cạnh tranh có nguồn gốc từ tư hữu.

Với cách tiếp cận này, cạnh tranh chỉ hoàn toàn mang nghĩa tiêu cực. Theo Krugman (1994), cạnh tranh chỉ ít nhiều phù hợp ở cấp độ doanh nghiệp vì ranh giới ở đây rất rõ ràng, nếu công ty không bù đắp nổi chi phí thì không trước thì sau sẽ phải từ bỏ kinh doanh hoặc phá sản.Samuelson cho rằng “Cạnh tranh là sự đối đầu giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng hoặc thị phần”. Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã chọn định nghĩa về cạnh tranh cố gắng kết hợp 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cả các doanh nghiệp, ngành, và quốc gia: “Khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Các trường phái kinh tế với những học thuyết về kinh tế thị trường đều đã thừa nhận rằng, cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại khi nền kinh tế là kinh tế thị trường.

Trong nền kinh tế thị trường, cung, cầu và giá cả hàng hoá là những nhân tố cơ bản của cơ chế thị trường, còn cạnh tranh là động lực của nền kinh tế. Ngày nay hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận rằng cạnh tranh không những là môi trường và động lực của sự phát triển mà còn là yếu tố quan trọng góp phần lành mạnh hoá các quan hệ sản xuất, một quy luật tất yếu để một nền kinh tế phát triển. “Cạnh tranh là cuộc đấu tranh quyết liệt gay gắt mà ở đó các chủ thể kinh doanh ganh đua nhau trong một thị trường hàng hoá cụ thể nào đó với mọi biện pháp, kể cả nghệ thuật và thủ đoạn nhằm đạt được mục tiêu kinh tế của mình. Mục tiêu đó có thể là giành giật khách hàng và thị trường hoặc các điều kiện sản xuất hay thị trường có lợi nhất, thông qua đó đạt đến mục đích cuối cùng là tối đa hoá lợi ích, thu được lợi nhuận cao” (1) Tính chất và mức độ cạnh tranh được phân nhiều loại, quá trình toàn cầu hoá càng diễn ra mạnh mẽ thì cạnh tranh càng diễn ra gay gắt vì trình độ phát triển của cạnh tranh không đều và lợi ích kinh tế khác nhau giữa nhóm nước công nghiệp phát triển với nhóm nước đang phát triển.

Cạnh tranh không phải là sự triệt tiêu lẫn nhau của các chủ thể tham gia, mà là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp. Cạnh tranh góp phần cho sự tiến bộ của khoa học, cạnh tranh giúp cho các chủ thể tham gia biết quý trọng hơn những cơ hội và lợi thế mà mình có được, cạnh tranh mang lại sự phồn thịnh cho đất nước… 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thông qua cạnh tranh, các chủ thể tham gia xác định cho mình những điểm mạnh, điểm yếu cùng với những cơ hội và thách thức trước mắt và trong tương lai, để từ đó có những hướng đi có lợi nhất cho mình khi tham gia vào quá trình cạnh tranh. Như vậy, có thể định nghĩa cạnh tranh là sự tranh đua giữa những cá nhân, tập thể, đơn vị kinh tế có chức năng như nhau thông qua các hành động, nổ lực và các biện pháp để giành phần thắng trong cuộc đua, để thỏa mãn các mục tiêu của mình. Các mục tiêu này có thể là thị phần, lợi nhuận, hiệu quả, an toàn, danh tiếng….

Tuy nhiên, không phải tất cả các hành vi cạnh tranh là lành mạnh, hoàn hảo và nó giúp cho các chủ thể tham gia đạt được tất cả những gì mình mong muốn. Trên thực tế, để có lợi thế trong kinh doanh các chủ thể tham gia đã sử dụng những hành vi cạnh tranh không lành mạnh để làm tổn hại đến đối thủ tham gia cạnh tranh với mình. Cạnh tranh không mang ý nghĩa triệt tiêu lẫn nhau, nhưng kết quả của cạnh tranh mang lại là hoàn toàn trái ngược.2 Các loại hình cạnh tranh Có nhiều hình thức được dùng để phân loại hình cạnh tranh bao gồm: căn cứ vào chủ thể tham gia, phạm vi ngành kinh tế và tính chất của cạnh tranh. - Căn cứ chủ thể tham gia: Cạnh tranh giữa người mua và người bán: do sự đối lập nhau của hai chủ thể tham gia giao dịch để xác định giá cả của hàng hóa cần giao dịch, sự cạnh tranh này diễn ra theo qui luật “mua rẻ, bán đắt” và giá cả của hàng hóa được hình thành.

Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: sự cạnh tranh này hình thành trên quan hệ cung - cầu. Tuy nhiên, sự cạnh tranh này chỉ xảy ra trong 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com điều kiện cung của một hàng hóa dịch vụ có chất lượng ít hơn nhu cầu của thị trường. Cạnh tranh giữa người bán với nhau: đây có lẽ là hình thức tồn tại nhiều nhất trên thị trường với tính chất gay go và khốc liệt. Cạnh tranh này có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp nhằm chiếm thị phần và thu hút khách hàng.

- Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế: Cạnh tranh trong nội bộ ngành: đây là hình thức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất, tiêu thụ một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó, trong đó các đối thủ tìm cách thôn tính lẫn nhau, giành giật khách hàng về phía mình, chiếm lĩnh thị trường. Biện pháp cạnh tranh chủ yếu của hình thức này là cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí. Kết quả cạnh tranh trong nội bộ ngành làm cho kỹ thuật phát triển, điều kiện sản xuất trong một ngành thay đổi, giá trị hàng hóa được xác định lại, tỷ suất sinh lời giảm xuống và sẽ làm cho một số doanh nghiệp thành công và một số khác phá sản, hoặc sáp nhập. Cạnh tranh giữa các ngành: là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp khác nhau trong nền kinh tế nhằm tìm kiếm mức sinh lợi cao nhất, sự cạnh tranh này hình thành nên tỷ suất sinh lời bình quân cho tất cả mọi ngành thông qua sự dịch chuyển của các ngành với nhau.

- Căn cứ vào tính chất của cạnh tranh trên thị trường thì cạnh tranh gồm có cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo. Cạnh tranh hoàn hảo: là loại hình cạnh tranh mà ở đó không có người sản xuất hay người tiêu dùng nào có quyền hay khả năng khống chế thị trường, làm ảnh hưởng đến giá cả. Cạnh tranh hoàn hảo được mô tả là tất cả các hàng hóa trao đổi được coi là giống nhau; tất cả những người bán và người mua 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đều có hiểu biết đầy đủ về các thông tin liên quan đến việc mua bán, trao đổi; không có gì cản trở việc gia nhập hay rút khỏi thị trường của người mua hay người bán. Để chiến thắng trong cuộc cạnh tranh các doanh nghiệp phải tự tìm cách giảm chi phí, hạ giá thành hoặc tạo nên sự khác biệt về sản phẩm của mình so với các đối thủ khác.

Cạnh tranh không hoàn hảo: là một dạng cạnh tranh trong thị trường khi các điều kiện cần thiết cho việc cạnh tranh hoàn hảo không được thỏa mãn. Các loại cạnh tranh không hoàn hảo gồm: Độc quyền; Độc quyền nhóm; Cạnh tranh độc quyền; Độc quyền mua; Độc quyền nhóm mua. Trong thị trường cũng có thể xảy ra cạnh tranh không hoàn hảo do những người bán hoặc người mua thiếu các thông tin về giá cả các loại hàng hóa được trao đổi. Khái niệm về năng lực cạnh tranh Thuật ngữ năng lực cạnh tranh được sử dụng rộng rãi trong phạm vi toàn cầu nhưng cho đến nay vẫn chưa có sự nhất trí cao giữa các học giả, các nhà chuyên môn về khái niệm cũng như cách đo lường, phân tích năng lực cạnh tranh.

Năng lực cạnh tranh có thể coi là một tiêu thức quan trọng thể hiện khả năng tăng trưởng, phát triển của đất nước, của nền kinh tế hay nhỏ hơn là ngành, doanh nghiệp trên thị trường nội địa và quốc tế. Năng lực cạnh tranh về bản chất chính là sự phối hợp có hiệu quả giữa quản lý Nhà nước và điều hành doanh nghiệp nhằm tạo được giá trị đầu ra cao nhất trên cơ sở cùng đơn vị đầu vào. Năng lực cạnh tranh là tổng hoà giữa yếu tố thuộc về cả môi trường vĩ mô và vi mô và để được đánh giá là có năng lực cạnh tranh thì quốc gia, ngành, doanh nghiệp, sản phẩm phải luôn giữ được yếu tố lợi thế so với quốc gia, ngành, doanh nghiệp và sản phẩm khác. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Các cấp độ của năng lực cạnh tranh và các yếu tố ảnh hƣởng đến năng lực canh tranh 1. Các cấp độ của năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh có thể được phân loại thành bốn cấp độ, đó là năng lực cạnh tranh ở cấp quốc gia, cấp ngành, doanh nghiệp và cấp sản phẩm hay còn gọi là năng lực cạnh tranh quốc gia, ngành, doanh nghiệp và của sản phẩm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ