CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỢI THẾ CẠNH TRANH VÀ RÀO CẢN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ ĐỐI VỚI NGÀNH TRÁI CÂY ---o0o--- • CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỢI THẾ CẠNH TRANH • Khái niệm cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh Các học thuyết kinh tế thị trường dù trường phái nào đều thừa nhận rằng: Cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế thị trường, nơi mà cung - cầu và giá cả hàng hóa là những nhân tố cơ bản của thị trường, là đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường, cạnh tranh là linh hồn của thị trường. Cạnh tranh là một hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp, do cách tiếp cận khác nhau, nên có các quan niệm khác nhau về cạnh tranh. Cạnh tranh theo định nghĩa của Đại từ điển tiếng Việt là: “Tranh đua giữa những cá nhân, tập thể có chức năng như nhau, nhằm giành phần hơn, phần thắng về mình”.[5, 448] Theo cuốn Tổng quan về cạnh tranh công nghiệp Việt Nam đó chọn định nghĩa về cạnh tranh cố gắng kết hợp cả các doanh nghiệp, ngành và quốc gia như sau: “Khả năng của doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.[5, 448] Theo Từ điển Thuật ngữ Kinh Tế học “Cạnh tranh – sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia. Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên hay nhiều bên cố gắng giành lấy thứ mà không phải ai cũng có thể giành được”.
Ngoài ra, cũng có thể dẫn ra nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm cạnh tranh… Song qua các định nghĩa trên có thể tiếp cận về cạnh tranh như sau: • Cạnh tranh là nói đến sự ganh đua nhằm giành lấy phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự. • Mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tượng cụ thể mà các bên 18 123doc đều muốn giành lấy để cuối cùng là kiếm được lợi nhuận cao. • Cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể các ràng buộc chung mà các bên tham gia phải tuân thủ như: đặc điểm sản phẩm, thị trường, các điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh… • Trong quá trình cạnh tranh các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau: Cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản phẩm; cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm; cạnh tranh nhờ dịch vụ bán hàng tốt, cạnh tranh thông qua hình thức thanh toán… Với phương pháp tiếp cận trên, khái niệm cạnh tranh có thể hiểu như sau: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm đủ mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích.
Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi. Theo các nhà kinh tế học cổ điển, các yếu tố sản xuất như đất đai, vốn, lao động, tài sản hữu hình là nguồn lực quan trọng tạo nên lợi thế cạnh tranh. Adam Smith cho rằng lợi thế cạnh tranh dựa trên cơ sở lợi thế tuyệt đối về năng suất lao động. Năng suất lao động cao có nghĩa là chi phí sản xuất giảm.
Muốn tăng năng suất lao động thì phải phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất. David Ricardo lại cho rằng: lợi thế cạnh tranh không chỉ phụ thuộc vào lợi thế tuyệt đối mà còn phụ thuộc vào lợi thế tương đối tức lợi thế so sánh và nhân tố quyết định lợi thế so sánh vẫn là chi phí sản xuất nhưng mang tính tương đối. Micheal Porter phân biệt rõ 3 cấp độ của lợi thế cạnh tranh: • Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp: là sự khác biệt về sản phẩm của một doanh nghiệp mang tính vượt trội so với doanh nghiệp khác cùng ngành sản 19 123doc xuất kinh doanh (kể cả doanh nghiệp nước ngoài). Hai yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh doanh nghiệp đó là chất lượng sản phẩm và giá cả sản phẩm.
• Lợi thế cạnh tranh của ngành: lợi thế cạnh tranh của ngành hàng cụ thể của một quốc gia là sự khác biệt về lợi thế cạnh tranh mang tính vượt trội của các nhóm chiến lược trong ngành hàng đó so với các nhóm chiến lược trong ngành hàng tương ứng của những quốc gia khác trên thế giới. • Lợi thế cạnh tranh của quốc gia: là sự khác biệt mang tính vượt trội trong môi trường kinh tế - xã hội làm cho nền kinh tế quốc gia trở nên hấp dẫn hơn đối với các hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh để cạnh tranh với các quốc gia khác trong việc thu hút các nguồn lực kinh tế quốc tế và thiết lập các quan hệ thị trường quốc tế thuận lợi, nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện của nền kinh tế quốc gia. • Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh ngành A. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith: Theo quan điểm của Adam Smith, lợi thế tuyệt đối được hiểu là sự khác biệt tuyệt đối về năng suất lao động cao hơn hay chi phí lao động thấp hơn để làm ra cùng một loại sản phẩm.
Mô hình mậu dịch quốc tế của một quốc gia là chỉ xuất khẩu những sản phẩm mà mình có lợi thế tuyệt đối. Nếu mỗi quốc gia tập trung chuyên môn hóa sản xuất vào loại sản phẩm mà mình có lợi thế tuyệt đối thì tài nguyên của đất nước sẽ được khai thác có hiệu quả hơn và thông qua biện pháp trao đổi mậu dịch quốc tế các quốc gia giao thương đều có lợi hơn do tổng khối lượng các loại sản phẩm đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng cuối cùng của mỗi quốc gia tăng nhiều hơn và chi phí rẻ hơn so với trường hợp phải tự sản xuất toàn bộ. Tuy nhiên, thực tế chỉ có một số ít nước có lợi thế tuyệt đối, còn những nước nhỏ hoặc nghèo tài nguyên thì việc trao đổi mậu dịch quốc tế có xảy ra không? Lý thuyết Lợi thế tuyệt đối không trả lời được mà phải dựa vào lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo. 20 123doc • Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo Thương mại vẫn có thể xảy ra trong trường hợp một quốc gia có lợi thế tuyệt đối cả hai sản phẩm và một quốc gia không có lợi thế tuyệt đối ở sản phẩm nào.
Tuy nhiên, cả hai quốc gia đều có lợi nhờ vào lợi thế tương đối (lợi thế so sánh). Lợi thế so sánh là lợi thế có tỉ lệ hao phí lao động tương đối thấp. Như vậy, theo lý thuyết của Ricardo, các quốc gia không có lợi thế cạnh tranh tuyệt đối thì việc mua bán trao đổi giữa hai quốc gia vẫn có thể thực hiện được nhờ vào lợi thế so sánh (lợi thế tương đối). Lợi thế tương đối được tính bằng tỷ lệ tiêu hao nguồn lực của quốc gia 1 để sản xuất ra sản phẩm A so với sản phẩm B là thấp hơn quốc gia 2 và ngược lại quốc gia 2 sẽ có tỉ lệ thiêu hao nguồn lực giữa sản phẩm B so với sản phẩm A là thấp hơn quốc gia 1 mặc dù có thể quốc gia 1 có lợi thế cạnh tranh tuyệt đối cả hai sản phẩm A và B so với quốc gia 2.
Do đó, quốc gia 1 tiến hành chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm A và quốc gia 2 tiến hành chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm B và hai quốc gia tiến hành trao đổi cho nhau thì cả hai quốc gia đều có lợi. Tuy nhiên, theo quan điểm hai quốc gia thì việc cạnh tranh chỉ được xét trên hai quốc gia mà thôi. Trên thực tế, không chỉ có hai quốc gia cạnh tranh lẫn nhau mà có sự tham gia của tất cả các quốc gia trên thế giới và lý luận của David Ricardo đã bỏ qua chi phí vận chuyển giữa hai quốc gia. Tuy nhiên, kết luận của David Ricardo vẫn là một kết luận quan trọng giải thích về nguồn gốc thương mại quốc tế.
• Lý thuyết lợi thế cạnh tranh ngành Nghiên cứu lợi thế so sánh cho phép chúng ta nhận được ưu thế của nền kinh tế quốc gia trong quan hệ giao thương với các nước khác, làm cơ sở để xây dựng chính sách thương mại quốc tế cho phù hợp. Tuy nhiên, trong hoạt động kinh doanh quốc tế (ở cấp doanh nghiệp) và hoạt động thu hút nguồn lực đầu tư quốc tế để tạo môi trường sản xuất kinh doanh thuận lợi (ở cấp ngành và quốc 21 123doc gia), các chủ thể kinh tế (doanh nghiệp, ngành, quốc gia) phải cạnh tranh với nhau vô cùng quyết liệt để tồn tại và phát triển. Nói như vậy có nghĩa là, giữa lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh có một khoảng cách nhất định, chỉ với phạm trù lợi thế so sánh chưa đủ để làm sáng tỏ mọi vấn đề của môi trường thương mại quốc tế, mà cần phải nghiên cứu sâu hơn về lợi thế cạnh tranh. Trước hết, cần phải làm rõ khái niệm “ngành” được đề cập ở đây là ngành hàng, gắn liền với một chủng loại sản phẩm cụ thể, ví dụ như: ngành gạo, ngành thủy sản, ngành dệt may, ngành ô tô, ngành du lịch …(để phân biệt với 3 ngành kinh tế cơ bản của nền kinh tế là nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ).
Lợi thế cạnh tranh của ngành được xem xét trong mối tương quan với ngành tương ứng ở những quốc gia khác để tranh giành thị trường trên phạm vi thế giới. Lợi thế cạnh tranh của ngành sẽ gia tăng theo qui mô của ngành và đó là biểu hiện lợi thế bên ngoài của nền kinh tế. Lợi thế cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngành Lợi thế cạnh tranh của ngành hàng cụ thể của một quốc gia là sự khác biệt về lợi thế cạnh trạnh mang tính vượt trội của các nhóm chiến lược trong ngành hàng tương ứng của những quốc gia khác nhau trên thế giới. Và do đó, năng lực cạnh tranh của ngành hàng biểu hiện qua năng lực cạnh tranh của các nhóm chiến lược trong ngành.
Nhóm chiến lược là một tập hợp những công ty áp dụng chiến lược sản xuất kinh doanh tương tự nhau. Mỗi ngành hàng có thể bao gồm một hay nhiều nhóm chiến lược. Dấu hiệu căn bản phân biệt các nhóm chiến lược là giá cả và bề rộng của dòng sản phẩm (thể hiện qua qui cách chất lượng, chủng loại sản phẩm).