Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển thị trƣờng bán lẻ. Thực trạng thị trƣờng bán lẻ của Việt Nam sau khi gia nhập WTO. Một số giải pháp phát triển thị trƣờng bán lẻ Việt Nam trong thời gian tới.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG BÁN LẺ 1. Khái quát chung về thị trƣờng bán lẻ 1. Khái niệm về bán lẻ, thị trƣờng bán lẻ Trong nhiều định nghĩa khác nhau về bán lẻ, có hai định nghĩa đƣợc thừa nhận và sử dụng khá rộng rãi, đó là định nghĩa bán lẻ của Philip Kotler và định nghĩa của Từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia. Trong “Marketing Essentials”, Philip Kotler định nghĩa bán lẻ nhƣ sau: “Bán lẻ là mọi hoạt động nhằm bán hàng hoá hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng cho cá nhân, không mang tính thương mại.
Mọi tổ chức làm công việc bán hàng này đều là tổ chức bán lẻ, bất kể hàng hoá hay dịch vụ đó đƣợc bán nhƣ thế nào (bán trực tiếp, qua bƣu điện, qua điện thoại hay qua máy bán hàng tự động) và ở đâu (trong cửa hàng, trong chợ, trên đƣờng phố hay tại nhà ngƣời tiêu dùng). Từ điển bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia đƣa ra định nghĩa: “Bán lẻ bao gồm việc bán hàng hoá cho cá nhân hoặc hộ gia đình để họ tiêu dùng, tại một địa điểm cố định, hoặc không tại một địa điểm cố định mà qua các dịch vụ liên quan.” Trong thƣơng mại, nhà bán lẻ mua hàng hoá với số lƣợng lớn từ nhà sản xuất hoặc nhà nhập khẩu, trực tiếp hoặc qua nhà bán buôn và sau đó bán lại từng mặt hàng hoặc lƣợng nhỏ hàng hoá tới công chúng hoặc ngƣời tiêu dùng cuối cùng. Trong kinh tế học hiện đại, thị trƣờng là tổng thể các quan hệ mua bán hàng hoá, dịch vụ giữa vô số những ngƣời bán và ngƣời mua có quan hệ cạnh tranh với nhau, bất kể là ở địa điểm nào, thời gian nào. Khái niệm này cũng đúng với thị trƣờng bán lẻ.
Tuy nhiên, trong khái niệm thị trƣờng bán lẻ, ngoại diên đã đƣợc thu hẹp và nội hàm đƣợc mở rộng hơn. Cụ thể, ngƣời bán là ngƣời bán lẻ, họ không chỉ bán hàng hóa mà còn cung cấp cho ngƣời ngƣời mua các dịch vụ hỗ trợ, bổ sung có liên quan đến hàng hóa; ngƣời mua là ngƣời tiêu dùng cuối cùng, họ không chỉ mua 5 z hàng hóa mà còn quan tâm đến cả dịch vụ do ngƣời bán cung cấp; hàng hóa cũng đƣợc xác định cụ thể là những hàng hóa phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình. Từ góc độ kinh tế, về nguyên tắc, không có sự khác biệt giữa sản xuất hàng hóa và dịch vụ, cả thị trƣờng hàng hóa và dịch vụ đều đƣợc điều chỉnh bởi tập hợp các mục đích, các động lực và các hạn chế tƣơng tự. Nhiệm vụ kinh tế thực sự của một chủ thể cung cấp hàng hóa hay dịch vụ đều bao gồm việc tiến hành và điều phối các nhân tố sản xuất (vốn, lao động, công nghệ) nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của khách hàng tiềm năng cả ở trong và ngoài nƣớc.
Trên thị trƣờng, thành công hay thất bại của một chủ thể kinh doanh hàng hóa hay dịch vụ đƣợc quyết định bởi chính năng lực cạnh tranh của chủ thể đó. Tuy nhiên, thị trƣờng dịch vụ cũng có khác biệt so với thị trƣờng hàng hóa về phƣơng thức thực hiện mua – bán trên thị trƣờng (phƣơng thức thực hiện thƣơng mại), tính cạnh tranh trên thị trƣờng, các qui định pháp lý. Những khác biệt này có liên quan đến đặc tính vô hình của dịch vụ, sự diễn ra đồng thời của sản xuất (cung ứng) và tiêu dùng dịch vụ, tính không thể lƣu trữ và không có sự chuyển quyền sở hữu. Ngƣời bán lẻ hàng hóa không chỉ đơn thuần là bán hàng, mà còn cung cấp cho ngƣời tiêu dùng (ngƣời mua) một loạt các dịch vụ phụ trợ liên quan trực tiếp đến hàng hóa (bảo quản, kho bãi, phân loại, bao gói hàng hóa,.), dịch vụ bổ sung (địa điểm thuận lợi, bảo đảm về giao hàng, các thông tin và môi trƣờng kinh doanh), giúp cho ngƣời mua có sự lựa chọn chính xác hơn, thuận tiện hơn.
Nhƣ vậy, khi việc mua - bán hàng hóa diễn ra thì đồng thời phát sinh cả quan hệ mua - bán hàng hóa và quan hệ mua - bán dịch vụ. Tuy nhiên, do tính vô hình của sản phẩm dịch vụ, quan hệ mua - bán dịch vụ thƣờng bị che lấp bởi quan hệ mua - bán hàng hóa. Hình thức bán lẻ Trên thực tế, các hình thức tổ chức bán lẻ tồn tại rất đa dạng và những hình thức mới vẫn tiếp tục xuất hiện. Trong giới hạn của mình, luận văn xem xét các hình thức: bán lẻ tại cửa hàng, bán lẻ không qua cửa hàng và các tổ chức bán lẻ.
Hình thức bán lẻ tại cửa hàng: - Cƣ̉a hàng chuyên doanh : bán một chủng loại hẹp sản phẩm , nhƣng la ̣i đa dạng. Vd: cƣ̉a hàng quầ n áo , cƣ̉a hàng hoa , sách,…Cƣ̉a hàng chuyên doanh có thể phân loa ̣i nhỏ hơn nƣ̃a theo mƣ́c đô ̣ chuyên he ̣p của cƣ̉a hàng. Mô ̣t cƣ̉a hàng quầ n áo là cửa hàng một chủng loại , cƣ̉a hàng quầ n áo nam là cƣ̉a hàng chủng loa ̣i ha ̣n chế , còn cửa hàng may đo sơ mi nam là cửa hàng chuyên doanh hẹp. - Cƣ̉a hàng bách hóa tổng hợp: bán một số chủng loại sản phẩm , thƣờng là quầ n áo , đồ gia du ̣ng và đồ đa ̣c , trang bi ̣nô ̣i thấ t , trong đó mỗi chủng loa ̣i đƣơ ̣c đă ̣t tại mỗi gian hàng riêng biệt do chuyên gia thu mua hay buôn bán quản lý.
Cũng có nhƣ̃ng cƣ̉a hàng bách hóa chuyên doanh chỉ bán quầ n áo , giày dép, mỹ phẩm, tă ̣ng phẩ m và vali, túi xách. - Siêu thi :̣ là một cửa hàng tự phục vụ , tƣơng đố i lớn , chi phí thấ p , mƣ́c lời thấ p, khố i lƣơ ̣ng lớn , đƣơ ̣c thiế t kế phu ̣c vu ̣ nhu cầ u của ngƣời tiêu dùng về r ất nhiều các mặt hàng khác nhau : thƣ̣c phẩ m , bô ̣t giă ̣t, sản phẩm chăm sóc nhà cửa. Các siêu thị chỉ ki ếm đƣơ ̣c lơ ̣i nhuâ ̣n khoảng 1% doanh số bán và 10% trên giá tri ̣ ròng của nó. - Siêu thi ba ̣ ́ ch hóa, siêu thi liên ̣ hơ ̣p và tổ hơ ̣p thƣơng ma ̣i: Siêu thi ̣ bách hóa có mặt bằng bán hàng trung bình là 3.251,5 mét vuông và nhằ m mu ̣c đić h thỏa mañ đầ y đủ các nhu cầ u của ngƣời tiêu dùng về thƣ̣c phẩ m mua thƣờng ngày và những mặt hàng không phải thực phẩm.
Siêu thị liên hợp là một dạng siêu thị đa dạng hóa các mặt hàng, có cả bán thuốc không cần toa và thuốc theo toa. Những siêu thị liên hợp bán thực phẩm và dƣợc phẩm thƣờng có mặt bằng bán trung bình là 5. Ví dụ: Giants, Walmart (U. Tổ hợp thương mại còn lớn hơn nữa và có diện tích khoảng từ 7.
Tổ hợp thƣơng mại kết hợp siêu thị và các nguyên tắc bán lẻ có chiết khấu và bán lẻ tại kho. Danh mục sản phẩm của nó vƣợt ra khỏi phạm vi những hàng hóa thông thƣờng bao gồm cả đồ gỗ, các thiết bị lớn và nhỏ, quần áo và rất nhiều những mặt hàng khác. Nguyên tắc cơ bản là xếp hàng thành đống và giảm 7 z tới mức tối thiểu công việc bốc xếp cho nhân viên cửa hàng, có đảm bảo chiết giá cho những khách hàng sẵn sàng chuyên chở lấy những thiết bị và đồ nặng từ cửa hàng về nhà. Ví dụ: Robinson (Thailand), Harrods (U.
- Cƣ̉a hàng ha ̣ giá : thƣờng xuyên bán nhƣ̃ng hàng hóa tiêu chuẩ n với giá thấ p hơn do chấ p nhâ ̣n mƣ́c lời thấ p hơn và bán với nhƣ̃ng khố i lƣơ ̣ng lớn hơn. Các cửa hàng biê ̣n pháp giảm giá theo đơ ̣t hay vào nhƣ̃ng dip̣ đă ̣c biê ̣t không ph ải là cƣ̉a hàng hạ giá. Ví dụ: Kwik Save, Lidl (U. - Cƣ̉a hàng thƣ ̣c phẩ m làm sẵn : là những cửa hàng tƣơng đối nhỏ đƣợc bố trí ở gần các khu nhà ở , mở cƣ̉a thêm giờ phu ̣c vu ̣ , bán một chủng loại hạn chế nhƣ̃ng sản phẩ m thông du ̣ng có tố c đô ̣ quay vòng cao.
Nhƣ̃ng cƣ̉a hàng này đáp ƣ́ng đƣơ ̣c mô ̣t nhu cầ u qua n tro ̣ng của ngƣời tiêu dùng và công chúng dƣờng nhƣ sẵn sàng trả giá cho sự thuận tiện đó. - Cửa hàng tiện lợi: Các cửa hàng loại này thƣờng mở cửa 24/24. Khách mua hàng thƣờng là ngƣời dân trong vùng hoặc các khu vực lân cận. Phần lớn các cửa hàng này hoạt động dƣới hình thức nhƣợng quyền thƣơng mại.
Ví dụ: 7-Eleven, Circle – K (U. - Bán lẻ lộng giá: mua hàng với giá thấp hơn giá bán sỉ thƣờng xuyên và bán cho ngƣời tiêu dùng với giá thấp hơn giá bán lẻ. Xu hƣớng của họ là bán một số những hàng hóa chất lƣợng tƣơng đối cao, luôn thay đổi và không ổn định, thƣờng là những hàng hóa còn dƣ, nhƣng số hàng sản xuất vƣợt quá số lƣợng đặt hàng và hàng sai quy cách, đƣợc ngƣời sản xuất hay ngƣời bán lẻ khác giảm giá. Vd: quần áo, phụ tùng và giày dép.
Có ba kiểu bán lẻ lộng giá chính là: các cửa hàng của nhà máy, ngƣời bán lẻ độc lập và hội kho. Ví dụ: Shed Store (U. - Phòng trƣng bày catalog: bán với giá hạ rất nhiều các chủng loại hàng hóa có tên nhãn, lƣu thông nhanh, giá cao nhƣ: đồ kim hoàn, dụng cụ điện máy, máy ảnh, túi xách, thiết bị nhỏ, đồ chơi và đồ thể thao. Phòng trƣng bày catalog kiếm tiền bằng cách cắt giảm chi phí và mức lời để đảm bảo giá thấp nhằm tăng khối lƣợng bán ra.
Ví dụ: phòng trƣng bày, showroom của Samsung, LG (Korea). 8 z Những ngƣời bán lẻ tại cửa hàng có thể bán hàng của mình theo một trong bốn mức độ dịch vụ sau: bán lẻ tự phục vụ, bán lẻ tự chọn, bán lẻ phục vụ hạn chế và bán lẻ phục vụ đầy đủ. Hình thức bán lẻ không qua cửa hàng: Mặc dù tuyệt đại bộ phận hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng đƣợc bán thông qua các cửa hàng nhƣng bán lẻ không qua cửa hàng đang phát triển nhanh hơn nhiều so với bán lẻ qua cửa hàng.