Chương 1: LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Khái niệm cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh Khái niệm cạnh tranh Cho đến bây giờ ta có thể bắt gặp thuật ngữ cạnh tranh ở rất nhiều lĩnh vực trong đời sống như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, thể thao…do vậy có rất nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh. Theo tác giả Đoàn Hùng Nam (2010): “Cạnh tranh là một quan hệ kinh tế, tất yếu phát sinh trong cơ chế thị trường với việc các chủ thể kinh tế ganh đua gay gắt để giành giật những điều kiện có lợi về sản xuất và tiêu dùng hàng hóa nhằm chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng để thu được lợi nhuận cao nhất.
Mục đích cuối cùng trong cuộc cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích đối với doanh nghiệp và đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng tiện lợi." Trên thực tế còn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh của doanh nghiệp, theo tác giả thì “Cạnh tranh không phải là sự hủy diệt đối thủ của mình thông qua các thủ đoạn, mà chính cạnh tranh là động lực làm cho các doanh nghiệp phát triển tốt hơn, cạnh tranh còn diễn ra ngay chính nội bộ doanh nghiệp. Nói cách khác, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp để phục vụ khách hàng mỗi ngày một tốt hơn, doanh nghiệp nào hài lòng với vị thế đang có trên thương trường sẽ rơi vào tình trạng tụt hậu và sẽ sớm bị đào thải trong thị trường thế giới đang còn nhiều biến động.” (Nguồn: Nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập-Đoàn Hùng Nam) Ngoài ra, khái niệm cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường. Cạnh tranh có thể đem lại hoặc lấy đi lợi ích của người này khoặc người khác, tuy nhiên khi xét dưới góc độ lợi ích toàn xã hội, cạnh tranh luôn có tác động tích cực. Ví dụ như chất lượng sản phẩm, dịch vụ được cải thiện, giá rẻ hơn.Cũng giống như quy luật sinh tồn và đào thải trong tự nhiên đã được Darwin phát hiện, quy luật của cạnh tranh là thải loại những thành viên yếu 1 kém trên thị trường, duy trì nuôi dưỡng và phát triển những thành viên, nhân tố tốt để qua đó hỗ trợ đắc lực cho quá trình phát triển của toàn xã hội.
Khái niệm lợi thế cạnh tranh Nếu không có lợi thế thì đừng cạnh tranh, bởi lẽ lợi thế là nền tảng cho sự cạnh tranh. Chính vì vậy, lợi thế cạnh tranh là những gì làm cho doanh nghiệp nổi bật, những cái mà đối thủ cạnh tranh không có. Một doanh nghiệp được xem là có lợi thế cạnh tranh khi tỷ lệ lợi nhuận của nó cao hơn tỷ lệ bình quân trong ngành. Và doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh bền vững khi nó có thể duy trì lợi nhuận cao đó trong một thời gian dài.
Có bốn yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh đó là: hiệu quả, chất lượng, sự cải tiến và sự đáp ứng khách hàng. Một doanh nghiệp muốn tạo dựng lợi thế cạnh tranh cho riêng mình, bất kể doanh nghiệp đó trong ngành nào, cung cấp sản phẩm dịch vụ gì thì cũng cần hướng tới bốn yếu tố trên. Bốn yếu tố có mối quan hệ tương tác khá mạnh, muốn tạo dựng lợi thế cạnh tranh cần thực hiện một cách đồng bộ các yếu tố chứ không nên tách rời chúng. Nâng cao chất lượng LỢI THẾ CẠNH Nâng cao hiệu Nâng cao sự thỏa TRANH quả các hoạt động mãn khách hàng Chi phí thấp sự khác biệt Đổi mới Hình 1.1 Các yếu tố cơ bản tạo lợi thế cạnh tranh.com) Theo Porter (1980) thì lợi thế cạnh tranh đến với doanh nghiệp nào có thể tạo ra giá trị vượt trội.
Và cách thức để tạo ra giá trị vượt trội là hướng đến việc giảm thấp chi phí kinh doanh và tạo khác biệt sản phẩm vì thế khách hàng đánh giá nó 2 cao hơn và sẵn lòng trả một mức giá tăng thêm. Trong đó lượng giá trị mà khách hàng cảm nhận về hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp và chi phí sản xuất của nó là hai yếu tố cơ bản hình thành tỷ lệ lợi nhuận cũng như lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp. Giá trị cảm nhận của khách hàng là sự lưu trữ trong tâm trí họ về những gì mà họ cảm thấy thỏa mãn từ sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp. Giá trị mà khách hàng cảm nhận thường cao hơn giá trị mà doanh nghiệp đòi hỏi về sản phẩm dịch vụ của mình, chính phần cao hơn đó là thặng dư người tiêu dùng mà khách hàng có thể giành được.
Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau bằng việc nâng cao giá trị đó, khi mà cạnh tranh càng khốc liệt thì phần thặng dư của người tiêu dùng càng cao và tất nhiên khách hàng sẽ ưu ái đối với sản phẩm nào mang lại cho họ giá trị cảm nhận cao hơn. Một doanh nghiệp không thể phân đoạn thị trường chi tiết đến mức mà nó có thể đòi hỏi mỗi khách hàng một mức giá mà tại đó phản ánh đúng đắn những cảm nhận riêng của họ về giá trị sản phẩm. Do vậy doanh nghiệp chỉ có thể đòi hỏi mức giá thấp hơn với giá trị mà khách hàng cảm nhận và đánh giá về sản phẩm Vấn đề tiếp theo tôi muốn nhắc tới đó là chuỗi giá trị. Đó là một công cụ hữu ích để phân tách doanh nghiệp trong một chuỗi các hoạt động tạo ra giá trị gia tăng, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển lợi thế cạnh tranh của mình.2: Chuổi giá trị của M.Porter (Nguồn:Lợi thế cạnh tranh-Michael E.Porter) 3 Chuỗi giá trị được hiểu là chuỗi / tập hợp các hoạt động của doanh nghiệp mà mọi hoạt động góp phần gia tăng giá trị để chuyển các nguồn lực thành sản phẩm / dịch vụ đến khách hàng.
Chuỗi giá trị cho thấy khả năng tạo ra giá trị cho khách hàng của doanh nghiệp qua 5 hoạt động cơ bản là: hậu cần đầu vào, vận hành, hậu cần đầu ra, tiếp thị và bán hàng, dịch vụ. Bốn hoạt động hỗ trợ gồm: cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp, quản trị nguồn nhân lực, phát triển kỹ thuật và cung ứng nguyên vật liệu. Chuỗi giá trị là một công cụ hữu ích trong việc xác định các hoạt động chính và năng lực cốt lõi của doanh nghiệp. Khi mà chuỗi giá trị được tích hợp cao sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp do đối thủ khó có thể bắt trước.
- Chi phí thấp: giảm và tiết kiệm chi phí - Khác biệt hóa: tạo ra sự khác biệt với đối thủ cạnh tranh Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Theo báo cáo về đánh giá năng lực cạnh tranh toàn cầu, năng lực cạnh tranh đối với một quốc gia là: “Khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỉ lệ tăng trưởng kinh kế cao được xác định bằng thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên đầu người theo thời gian”. (Nguồn: Báo cáo về cạnh tranh toàn cầu của tổ chức thương mại thế giới WTO) Năng lực cạnh tranh thực ra là một khái niệm tương đối rộng, nó không chỉ có thể sử dụng để đánh giá cho tất cả các doanh nghiệp mà còn cho các ngành, các quốc gia, các khu vực. Theo Michael Porter (1979) thì “Những doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là những doanh nghiệp đạt được mức tiến bộ cao hơn mức trung bình về chất lượng hàng hóa và dịch vụ hoặc có khả năng cắt giảm các chi phí tương đối cho phép họ tăng được lợi nhuận (doanh thu – chi phí) và thị phần. Khái niệm trên đã phản ánh tương đối toàn diện về năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, thể hiện rõ được mục tiêu của cạnh tranh và nền tảng của cạnh tranh thành công đó là: chi phí sản xuất thấp hơn đối thủ, khác biệt hóa về sản phẩm để có mức giá cao.
Khi đã có lợi thế cạnh tranh thì việc duy trì lợi thế đó các doanh nghiệp cũng cần phải luôn tìm tòi nghiên cứu để có thể cung cấp những sản phẩm, 4 dịch vụ với chất lượng cao hơn hoặc quy trình sản xuất hiệu quả hơn với chi phí thấp hơn và năng suất cao hơn. Đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế Việt Nam, khi mà các yếu tố như công nghệ, đào tạo huấn luyện và sử dụng nguốn nhân lực, liên kết kinh tế phụ thuộc vào các chính sách của nhà nước và nỗ lực của bản thân doanh nghiệp thì năng lực cạnh tranh còn trực tiếp gắn với khả năng duy trì và phát triển của doanh nghiệp. Ngoài việc tập trung vào chi phí sản xuất thấp, giá thành hạ còn phải lưu ý tới các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh về chất như: việc đánh giá đối thủ cạnh tranh, sự xâm nhập ngành của các doanh nghiệp mới, các sản phẩm dịch vụ thay thế, vị thế đàm phán của doanh nghiệp với các nhà cung cấp, kỹ năng tổ chức quản lý, trình độ người mua. Tuy vậy cho đến nay quan niệm về năng lực cạnh tranh vẫn chưa được hiểu một cách nhất quán, khi đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, cần lưu ý thêm một số vấn đề sau đây: Một là, quan niệm năng lực cạnh tranh cần phù hợp với điều kiện, bối cảnh và trình độ phát triển trong từng thời kỳ.
Chẳng hạn, trong nền kinh tế thị trường tự do trước đây, cạnh tranh chủ yếu trong lĩnh vực bán hàng và năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với việc bán được nhiều hàng hóa hơn đối thủ cạnh trạnh. Trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh trên cơ sở tối đa hóa số lượng hàng hóa nên năng lực cạnh tranh thể hiện ở thị phần. Còn trong điều kiện kinh tế tri thức hiện nay, cạnh tranh đồng nghĩa với mở rộng “không gian sinh tồn”, doanh nghiệp phải cạnh tranh không gian, cạnh tranh thị trường, cạnh tranh tư bản và do vậy quan niệm về cạnh tranh cũng phải phù hợp với điều kiện mới. Đối với Việt Nam hiện nay, với trình độ phát triển kinh tế còn thấp, nhưng lại đặt trong bối cảnh kinh tế quốc tế và cạnh tranh gay gắt, việc đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh cho phù hợp với bối cảnh hiện nay là không đơn giản.