Chương I: Giới thiệu Nội dung chương này trình bày về bối cảnh nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu; xác định đối tượng, phạm vi nghiên cứu; nêu rõ phương pháp nghiên cứu và cách thức thu thập nguồn thông tin. Chương II: Cơ sở lý thuyết Chương này trình bày về cơ sở lý thuyết làm nền tảng để thực hiện nghiên cứu gồm lý thuyết về năng lực cạnh tranh, lý thuyết về cụm ngành, lý thuyết về phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu. Chương III: Phân tích các nhân tố nền tảng quyết định năng lực cạnh tranh của tỉnh Gia Lai và sự phát triển của cụm ngành hồ tiêu Chương này trình bày tổng quan về các nhân tố nền tảng quyết định năng lực cạnh tranh của tỉnh Gia Lai để nghiên cứu về môi trường hoạt động của cụm ngành hồ tiêu; đồng thời trình bày sự phát triển của cụm ngành hồ tiêu tỉnh Gia Lai. Chương IV: Phân tích cụm ngành hồ tiêu tỉnh Gia Lai Chương này trình bày những kết quả nghiên cứu liên quan đến các yếu tố tác động đến cụm ngành hồ tiêu tỉnh Gia Lai.
Những kết quả này sẽ trả lời câu hỏi nghiên cứu số 1 “Đâu là những yếu tố tác động đến sự phát triển của cụm ngành hồ tiêu tỉnh Gia Lai từ 2005 đến 2014?”. Chương V: Kết luận và khuyến nghị Chương này sẽ đưa ra các khuyến nghị để trả lời câu hỏi nghiên cứu số 2 “Nhà nước có thể làm gì về mặt chính sách để nâng cao năng lực cạnh tranh cho cụm ngành hồ tiêu tỉnh Gia Lai trong thời gian tới?”. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -8- CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Lý thuyết về năng lực cạnh tranh Theo Michael Porter (2008) thì khái niệm có ý nghĩa duy nhất về năng lực cạnh tranh là năng suất.
Đây là nhân tố quyết định quan trọng nhất của mức sống dài hạn và là nguyên nhân sâu xa của thu nhập bình quân đầu người. Theo khuôn khổ phân tích năng lực cạnh tranh của Michael Porter được chỉnh sửa bởi Vũ Thành Tự Anh (2014) thì có ba nhóm nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh của một địa phương. Đầu tiên là nhóm các yếu tố sẵn có của địa phương gồm tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, quy mô của địa phương. Nhóm thứ hai là năng lực cạnh tranh ở cấp độ địa phương bao gồm những nhân tố cấu thành môi trường hoạt động của doanh nghiệp như chất lượng của hạ tầng xã hội và các thể chế chính trị, pháp luật, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế; các thể chế, chính sách kinh tế như chính sách tài khóa, tín dụng và cơ cấu kinh tế.
Nhóm thứ ba là năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp gồm chất lượng môi trường kinh doanh và cơ sở hạ tầng kỹ thuật, trình độ phát triển cụm ngành, hoạt động và chiến lược của doanh nghiệp. Lý thuyết về cụm ngành “Cụm ngành là sự tập trung về mặt địa lý của các doanh nghiệp, các nhà cung ứng và các doanh nghiệp có tính liên kết cũng như của các công ty trong các ngành có liên quan và các thể chế hỗ trợ (ví dụ như các trường đại học, cục tiêu chuẩn, hiệp hội thương mại…) trong một số lĩnh vực đặc thù, vừa cạnh tranh vừa hợp tác với nhau” (Michael Porter 1990, 1998, 2008, trích trong Vũ Thành Tự Anh, 2014, Khung phân tích năng lực cạnh tranh địa phương). Cụm ngành có thể là một thành phố, một vùng, một quốc gia hay thậm chí là một nhóm quốc gia lân cận. Các cụm ngành thường hình thành trên cơ sở những lợi thế đặc thù nhất định.
Đó là điều kiện tự nhiên và sự sẵn có của các nhân tố sản xuất, những điều kiện về nhu cầu, các doanh nghiệp chủ chốt, sự thành công của các cụm ngành đã hình thành từ trước và sự đầu tư của nhà nước. Sự phát triển của cụm ngành đóng vai trò quan trọng đối TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -9- với việc nâng cấp công nghiệp và phát triển kinh tế. Nhà nước cũng có thể sử dụng cách tiếp cận cụm ngành để thực hiện chiến lược và mục tiêu phát triển của mình. Hiện nay, mô hình kim cương của Michael Porter là một trong những mô hình được sử dụng nhiều nhất để phân tích về cụm ngành (Hình 2.
Mô hình kim cương bao gồm 4 nhân tố: Các nhân tố đầu vào gồm những điều kiện về cơ sở hạ tầng, nguồn vốn, nguồn nhân lực, nguồn tài sản vật chất và nguồn kiến thức; các điều kiện cầu bao gồm nhu cầu trong và ngoài nước về sản phẩm và dịch vụ; bối cảnh chiến lược và cạnh tranh của doanh nghiệp gồm những điều kiện ảnh hưởng đến việc tạo lập, tổ chức, quản lý doanh nghiệp và đặc điểm của các đối thủ trong nước; các ngành hỗ trợ và có liên quan bao gồm các nhà cung ứng và phân phối hỗ trợ ngành và cụm. Mô hình kim cương của Michael Porter Nguồn: Michael Porter, 2008 2. Lý thuyết về phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu Theo Nguyễn Văn Hậu (2013) thì mô hình phát triển kinh tế theo chiều rộng có đặc trưng cơ bản là tăng khối lượng sản xuất chỉ bằng tăng các yếu tố đầu vào: vốn, lao động và tiêu hao vật chất mà không kèm theo tiến bộ công nghệ. Đây là con đường đơn giản TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -10- nhất để mở rộng sản xuất, nó nhanh chóng khai thác được các nguồn tự nhiên, thu hẹp nạn thất nghiệp.
Nhưng con đường tăng trưởng như vậy về lâu dài sẽ dẫn đến tình trạng nhịp độ tăng năng suất lao động xã hội thấp, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, chất lượng của từng sản phẩm nói riêng và cả nền sản xuất nói chung ngày càng kém đi. Và để thoát khỏi tình trạng đó thì chỉ có con đường phát triển kinh tế theo chiều sâu. Mô hình phát triển kinh tế theo chiều sâu có đặc trưng chủ yếu là nâng cao hiệu quả của tất cả các yếu tố truyền thống trên cơ sở tiến bộ kỹ thuật, còn được gọi là năng suất các yếu tố tổng hợp. Mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu có ưu điểm là: Tiến bộ khoa học kỹ thuật đóng vai trò chính trong quá trình tăng trưởng; không chỉ tăng tổng khối lượng mà còn tăng cả chất lượng sản phẩm; giảm chi phí lao động và tư liệu sản xuất, giảm giá trị một đơn vị sản phẩm.
Đối với nông nghiệp nói chung và ngành hồ tiêu nói riêng thì các yếu tố đầu vào bao gồm vốn, đất đai, sức lao động, phân bón, thuốc BVTV,… Phát triển theo chiều rộng sẽ khai thác được nhiều các yếu tố đầu vào của sản xuất nhưng lại làm cho các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất đai nhanh chóng bị cạn kiệt và thường gây ra ô nhiễm môi trường. Về lâu dài năng suất lao động ngày càng giảm, chất lượng sản phẩm ngày càng kém đi và nền sản xuất ngày càng trì trệ. Còn phát triển theo chiều sâu sẽ hạn chế được các nhược điểm trên vì việc sử dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến vừa hạn chế ô nhiễm môi trường, vừa giảm được các chi phí vật chất, từ đó nâng cao được hiệu quả của sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và cuộc sống của người dân. Trên cơ sở đó, đề tài phân tích các nhân tố nền tảng quyết định năng lực cạnh tranh của tỉnh Gia Lai gồm các yếu tố sẵn có của địa phương, năng lực cạnh tranh cấp độ địa phương và năng lực cạnh tranh cấp độ doanh nghiệp để đánh giá về môi trường hoạt động của cụm ngành hồ tiêu.
Sau đó phân tích sâu hơn các yếu tố tác động trực tiếp đến cụm ngành theo bốn đỉnh của mô hình kim cương, gồm các điều kiện nhân tố đầu vào, điều kiện cầu, bối cảnh cho chiến lược và cạnh tranh, các ngành hỗ trợ và có liên quan. Từ đó, chỉ ra những yếu tố tác động tích cực và yếu tố tác động tiêu cực đến sự phát triển hiện nay của cụm ngành, xác định những yếu tố cần điều chỉnh để cụm ngành phát triển theo chiều sâu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, sau đó kiến nghị giải pháp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -11- CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ NỀN TẢNG QUYẾT ĐỊNH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TỈNH GIA LAI VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CỤM NGÀNH HỒ TIÊU 3. Phân tích các nhân tố nền tảng quyết định năng lực cạnh tranh của tỉnh Gia Lai 3.
Các yếu tố sẵn có của địa phương Hình 3. Bản đồ hành chính tỉnh Gia Lai Nguồn: UBND tỉnh Gia Lai, 2015 Tỉnh Gia Lai ở phía bắc Tây Nguyên, diện tích 15.536,92 km2, gồm có 14 huyện, 2 thị xã và 1 thành phố (Hình 3. Gia Lai là tỉnh có diện tích đứng thứ hai cả nước, mật độ dân số rất thưa thớt, chỉ 88 người/km2 so với bình quân cả nước 271 người/km2.000 ha diện tích đất sản xuất nông nghiệp, trong đó có 342.000 ha đất trồng cây TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -12- hàng năm và 270.000 ha trồng cây lâu năm (Niên giám thống kê 2013, 2014). Tỉnh Gia Lai có diện tích đất đỏ bazan lớn và cũng có nhiều loại tài nguyên như tài nguyên rừng, tài nguyên khoáng sản.
Đặc biệt tỉnh Gia Lai có nhiều sông, thác như thác Ia Ly, sông Sê San, sông Ba, vì vậy tỉnh có khá nhiều các nhà máy thủy điện lớn nhỏ. Trên địa bàn tỉnh hiện có 82 dự án thuỷ điện với tổng công suất 1.841 MW cung cấp điện cho lưới điện quốc gia (UBND tỉnh Gia Lai, 2015). Vì vậy, tỉnh Gia Lai có nhiều điều kiện thuận lợi để trồng cây công nghiệp và phát triển công nghiệp khai khoáng, thủy điện. Năng lực cạnh tranh ở cấp độ địa phương - Về cơ cấu kinh tế, chính sách đầu tư, tín dụng: Năm 2014, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 12,71%.
Trong cơ cấu kinh tế, nông lâm nghiệp - thủy sản chiếm 38,04%, công nghiệp - xây dựng chiếm 32,92%, dịch vụ chiếm 29,04%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng phát triển công nghiệp và dịch vụ để phục vụ nông nghiệp và chế biến các sản phẩm nông – lâm nghiệp. Thu nhập bình quân đầu người đạt 34,1 triệu đồng. Tổng thu ngân sách nhà nước của Gia Lai năm 2014 đạt 3.346 tỷ đồng, nhưng thu ngân sách của tỉnh chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu chi hàng năm.
Tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn là 42.200 tỷ đồng; dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn lớn, đạt 19.