Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Cà Mau sở hữu diện tích tự nhiên 5.294 km² với hơn 110.000 ha rừng ngập, bao gồm Vườn Quốc gia Đất Mũi (42.000 ha) và Vườn Quốc gia U Minh Hạ (8.286 ha) thuộc Khu Dự trữ Sinh quyển thế giới. Mặc dù lượng khách du lịch đến Cà Mau tăng trưởng mạnh từ 780.000 lượt năm 2011 lên 1.240.000 lượt năm 2017, ngành du lịch địa phương vẫn đối mặt với bài toán phát triển chưa tương xứng khi đóng góp vào tổng sản phẩm trên địa bàn chỉ đạt khoảng 1,2% cơ cấu kinh tế năm 2017. Sức cạnh tranh của điểm đến mới dừng lại ở mức trung bình và chịu sức ép lớn từ các trung tâm du lịch lân cận thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công của tác giả Lê Tùng Cường, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Đinh Công Khải tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2018), được thực hiện nhằm giải quyết hai mục tiêu trọng tâm: Phân tích thực trạng các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh cụm ngành du lịch Cà Mau giai đoạn 2012 - 2017; xác lập hệ thống giải pháp và khuyến nghị chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành đến năm 2020, tầm nhìn 2030.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các điểm đến trọng điểm như Mũi Cà Mau, Vườn Quốc gia U Minh Hạ, Hòn Đá Bạc, Khai Long, Đầm Thị Tường và các sân chim đặc trưng. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc lượng hóa các chỉ số phát triển du lịch, hỗ trợ chính quyền địa phương hiện thực hóa mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn theo Nghị quyết số 08-NQ/TW và Quyết định số 744/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, hướng tới mục tiêu tạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế và gia tăng thu nhập cho cộng đồng dân cư.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết năng lực cạnh tranh quốc gia thông qua mô hình kim cương của Michael Porter (năm 1990, 2008), kết hợp khung phân tích năng lực cạnh tranh cấp địa phương do chuyên gia kinh tế Vũ Thành Tự Anh (năm 2012) điều chỉnh. Mô hình kim cương bao gồm 4 đỉnh tương tác: Điều kiện nhân tố đầu vào; Điều kiện về nhu cầu; Các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan; Bối cảnh chiến lược và cạnh tranh của doanh nghiệp, cùng với vai trò quản lý điều tiết của chính quyền địa phương. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp mô hình 4 nhóm nhân tố du lịch của Coltman (năm 1989) gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ, chính quyền địa phương và dân cư sở tại.

Hệ thống khái niệm nền tảng được chuẩn hóa gồm: Du lịch và Khách du lịch (theo quy định của Luật Du lịch Việt Nam năm 2017); Điểm đến du lịch theo quan điểm của Buhalis (năm 2000) và Hu & Ritchie (năm 1993); Năng lực cạnh tranh dựa trên năng suất giá trị gia tăng theo định nghĩa của Michael Porter; Cụm ngành du lịch được hiểu là sự tập trung về mặt địa lý của các doanh nghiệp du lịch, nhà cung ứng, cơ sở đào tạo, cơ quan quản lý và các tổ chức bổ trợ có mối liên kết vừa hợp tác vừa cạnh tranh nhằm tạo ra hiệu ứng quy mô và giảm chi phí giao dịch.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập toàn diện từ Tổng cục Thống kê, Tổng cục Du lịch, Cục Thuế, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Cà Mau cùng các báo cáo chuyên đề giai đoạn 2011 - 2017.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp khảo sát phỏng vấn sâu chuyên gia. Nghiên cứu thực hiện chọn mẫu có chủ đích với cỡ mẫu gồm 25 chuyên gia, bao gồm cán bộ lãnh đạo quản lý nhà nước tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Cà Mau, ban quản lý các khu di tích, vườn quốc gia cùng các nhà quản lý doanh nghiệp lữ hành và khách sạn hàng đầu trên địa bàn. Việc lựa chọn phương pháp chọn mẫu chuyên gia nhằm khai thác góc nhìn sâu sắc, đa chiều về cơ chế vận hành thể chế và các rào cản thực tế của cụm ngành.

Phương pháp phân tích tổng hợp kết hợp thống kê mô tả và so sánh đối chuẩn giữa du lịch Cà Mau với 12 tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Cửu Long (như Cần Thơ, Kiên Giang, An Giang, Tiền Giang, Bến Tre). Phương pháp này cho phép nhận diện chính xác vị thế cạnh tranh, đánh giá điểm nghẽn hạ tầng và chỉ ra nguyên nhân khiến du lịch Cà Mau chưa tạo được bước bứt phá trong dòng thời gian nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu thực chứng giai đoạn 2011 - 2017 làm nổi bật 4 phát hiện quan trọng:

Lượng khách du lịch duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định nhưng mất cân đối nghiêm trọng về cơ cấu thị trường. Tổng lượng khách tăng từ 780.000 lượt (năm 2011) lên 1.240.000 lượt (năm 2017), đạt mức tăng trưởng bình quân khách nội địa 19,1%. Tuy nhiên, năm 2017 khách nội địa chiếm tới 1.215.000 lượt (tương đương 98%), trong khi khách quốc tế chỉ đạt 25.000 lượt (chiếm khoảng 2%), thấp hơn rất nhiều so với các tỉnh lân cận.

Doanh thu du lịch tăng trưởng nhưng giá trị tuyệt đối và mức đóng góp kinh tế còn khiêm tốn. Doanh thu toàn ngành tăng từ 203,5 tỷ đồng (năm 2011) lên 670 tỷ đồng (năm 2017), đóng góp ngân sách nhà nước tăng từ 13,5 tỷ đồng lên 44,7 tỷ đồng. Dù vậy, tỷ trọng du lịch trong GRDP của tỉnh Cà Mau năm 2017 chỉ đóng góp khoảng 1,2% đến 5%, phản ánh mức sinh lợi kinh tế chưa tương xứng với tài nguyên thiên nhiên hiện có.

Thời gian lưu trú ngắn và mức chi tiêu bình quân của du khách thấp. Năm 2017, số ngày lưu trú bình quân của khách nội địa chỉ đạt 1,68 ngày với mức chi tiêu 0,55 triệu đồng/khách/ngày; khách quốc tế lưu trú 2,78 ngày với mức chi tiêu 1,8 triệu đồng/khách/ngày. Khách đến Cà Mau phần lớn chỉ tham quan điểm mốc Đất Mũi rồi rời đi trong ngày.

Cơ sở hạ tầng và chất lượng nhân lực ngành du lịch còn mỏng. Năm 2017, toàn tỉnh có 53 cơ sở lưu trú với 1.958 phòng, nhưng chỉ có 1 khách sạn đạt chuẩn 4-5 sao (177 buồng) và 17 cơ sở đạt chuẩn 2-3 sao (910 buồng), công suất sử dụng phòng bình quân chỉ đạt 68%. Về nhân lực, trong tổng số 4.840 lao động ngành du lịch năm 2017, có tới 2.065 người chưa qua đào tạo chuyên môn (chiếm 42,7%), trình độ đại học và trên đại học chỉ chiếm 553 người (11,4%). Toàn tỉnh chỉ có 10 doanh nghiệp lữ hành, trong đó chỉ có 2 đơn vị kinh doanh lữ hành quốc tế và 9 hướng dẫn viên nội địa được cấp thẻ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng doanh thu thấp và ngày lưu trú ngắn là do chuỗi cung ứng dịch vụ của cụm ngành chưa hoàn chỉnh. Sản phẩm du lịch còn mang tính đơn điệu, chủ yếu dựa vào khai thác thô tài nguyên tự nhiên, thiếu vắng các dịch vụ bổ trợ cao cấp, khu vui chơi giải trí đêm và trung tâm mua sắm đặc sản quy mô lớn.

So sánh với các tỉnh trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm 2017, quy mô khách của Cà Mau (1,24 triệu lượt) bị bỏ xa bởi An Giang (hơn 3,97 triệu lượt) và Kiên Giang (hơn 3,24 triệu lượt). Tỷ trọng khách quốc tế của Cà Mau (2%) thấp hơn nhiều so với Bến Tre (25,7%) và Cần Thơ (15,2%). Hạ tầng giao thông đường bộ kết nối các điểm du lịch biệt lập như cồn Ông Trang, đảo Hòn Khoai còn khó khăn, chi phí vận chuyển đường thủy cao gấp nhiều lần đường bộ đã làm giảm sức hấp dẫn của các tour tuyến.

Về mặt trình bày học thuật, dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ cột chồng thể hiện cơ cấu khách nội địa - quốc tế giai đoạn 2011 - 2017, kết hợp bảng ma trận kim cương Porter phân tích 4 nhóm yếu tố để làm rõ các điểm nghẽn thể chế, hạ tầng và liên kết vùng của Cà Mau.

Đề xuất và khuyến nghị

Nghiên cứu đề xuất 6 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành du lịch tỉnh Cà Mau:

Thứ nhất, hoàn thiện công tác quy hoạch và nâng cấp cơ sở hạ tầng giao thông kết nối. Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau cùng Sở Giao thông Vận tải chủ trì rà soát các dự án giao thông trọng điểm, hoàn thành nâng cấp các tuyến đường bộ dẫn tới Khu du lịch quốc gia Mũi Cà Mau, Vườn Quốc gia U Minh Hạ và Đầm Thị Tường. Mục tiêu đến năm 2020 giảm 30% thời gian di chuyển đường bộ, thu hút thêm 2 đến 3 dự án hạ tầng du lịch quy mô lớn với tổng vốn đầu tư trên 1.000 tỷ đồng.

Thứ hai, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp cùng các trường cao đẳng, đại học trong vùng tổ chức đào tạo lại nghiệp vụ khách sạn, kỹ năng hướng dẫn viên và ngoại ngữ cho người lao động. Mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 57,3% năm 2017 lên trên 70% vào năm 2020 và đạt 85% vào năm 2025, giảm tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo xuống dưới 20%.

Thứ ba, đa dạng hóa sản phẩm du lịch đặc thù và phát triển kinh tế đêm. Các doanh nghiệp lữ hành liên kết với Ban quản lý Vườn Quốc gia triển khai tour trải nghiệm sinh thái cộng đồng miệt rừng, miệt vuông, dịch vụ cano xuyên rừng ngập mặn và du lịch khám phá bãi bồi. Mục tiêu kéo dài thời gian lưu trú bình quân của khách nội địa từ 1,68 ngày lên 2,5 ngày và nâng mức chi tiêu bình quân lên trên 1,0 triệu đồng/ngày vào năm 2025.

Thứ tư, đẩy mạnh liên kết cụm ngành và xây dựng thương hiệu du lịch Cà Mau. Hiệp hội Du lịch tỉnh Cà Mau phối hợp cùng Sở Thông tin và Truyền thông thiết lập chuỗi liên kết tour Cần Thơ - An Giang - Kiên Giang - Cà Mau, triển khai cổng thông tin du lịch thông minh, định vị thương hiệu du lịch sinh thái Đất Mũi, phấn đấu nâng thị phần khách quốc tế lên 5% tổng lượng khách vào năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

Cơ quan quản lý nhà nước và các nhà hoạch định chính sách địa phương: Cán bộ lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Kế hoạch và Đầu tư sử dụng tài liệu để xây dựng chiến lược phát triển kinh tế du lịch, phê duyệt quy hoạch tổng thể và ban hành cơ chế khuyến khích đầu tư hạ tầng dịch vụ.

Doanh nghiệp kinh doanh du lịch, lữ hành và lưu trú: Giám đốc điều hành các công ty du lịch lữ hành, chuỗi khách sạn, khu nghỉ dưỡng tham khảo số liệu thị trường để thiết kế sản phẩm tour trải nghiệm mới, nâng cấp dịch vụ buồng phòng, định giá tour hợp lý và tối ưu hóa năng suất vận hành.

Học viên cao học, giảng viên và nhà nghiên cứu học thuật: Các nhà nghiên cứu thuộc chuyên ngành Quản lý công, Kinh tế phát triển, Quản trị kinh doanh du lịch sử dụng luận văn như một công trình mẫu về việc áp dụng mô hình kim cương của Michael Porter trong đánh giá cụm ngành kinh tế cấp địa phương.

Cộng đồng dân cư và các hợp tác xã nông - lâm - ngư nghiệp: Người dân tham gia các mô hình du lịch sinh thái cộng đồng tại Đất Mũi và U Minh Hạ có thể ứng dụng các chỉ dẫn về nâng cao kỹ năng phục vụ, giữ gìn vệ sinh môi trường tự nhiên và liên kết chuỗi giá trị nhằm tăng thu nhập hộ gia đình.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình kim cương của Michael Porter được áp dụng phân tích cụm ngành du lịch Cà Mau như thế nào? Luận văn đã cụ thể hóa 4 nhóm yếu tố kim cương vào thực tiễn địa phương: đánh giá tài nguyên tự nhiên và hạ tầng kỹ thuật (nhân tố đầu vào); phân tích xu hướng chi tiêu và ngày lưu trú của 1,24 triệu lượt khách (điều kiện cầu); rà soát năng lực của 53 cơ sở lưu trú và dịch vụ phụ trợ; đánh giá môi trường kinh doanh và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) để xác định vị thế cụm ngành du lịch Cà Mau.

Vì sao lượng khách đến Cà Mau tăng trưởng cao nhưng đóng góp vào GRDP của ngành du lịch lại thấp? Nguyên nhân chủ yếu do khách du lịch có thời gian lưu trú rất ngắn, bình quân chỉ 1,68 ngày đối với khách nội địa, mức chi tiêu khiêm tốn 0,55 triệu đồng/ngày. Hệ sinh thái dịch vụ chưa có các sản phẩm giải trí cao cấp, điểm mua sắm quy mô lớn để kích thích tiêu dùng, khiến doanh thu toàn ngành năm 2017 dừng ở mức 670 tỷ đồng, chỉ đóng góp khoảng 1,2% đến 5% cơ cấu kinh tế tỉnh.

Những điểm nghẽn lớn nhất trong việc thu hút khách du lịch quốc tế đến Cà Mau giai đoạn 2012 - 2017 là gì? Tỉnh Cà Mau chưa có sân bay quốc tế để kết nối trực tiếp với các thị trường trọng điểm; hạ tầng lưu trú 4-5 sao rất mỏng (chỉ có 1 cơ sở với 177 phòng vào năm 2017); toàn tỉnh chỉ có 2 doanh nghiệp lữ hành quốc tế và đội ngũ nhân lực thông thạo ngoại ngữ còn thiếu hụt, khiến tỷ trọng khách quốc tế chỉ chiếm khoảng 2% tổng lượng khách.

Mô hình du lịch sinh thái cộng đồng tại Cà Mau có những nét độc đáo nào? Cà Mau phát triển thành công hai mô hình du lịch cộng đồng đặc thù: du lịch miệt vuông (du khách trải nghiệm bắt cua, xổ tôm, soi ba khía tại vùng ngập mặn) và du lịch miệt rừng (trải nghiệm gác kèo ong, lấy mật ong rừng tràm, tát đìa bắt cá lóc tại Vườn Quốc gia U Minh Hạ, kết hợp nghe kể chuyện nghệ nhân Ba Phi và đờn ca tài tử).

Luận văn dự báo mục tiêu doanh thu của du lịch Cà Mau đến năm 2020 theo các kịch bản ra sao? Theo phương án dự báo của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch được trích dẫn trong luận văn, tổng thu nhập từ du lịch Cà Mau năm 2020 được dự báo đạt từ 113 triệu USD (kịch bản cơ sở) đến 142 triệu USD (kịch bản cao), trong đó thu nhập từ du lịch quốc tế dự kiến đóng góp từ 8 đến 16 triệu USD.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa và vận dụng thành công mô hình kim cương của Michael Porter kết hợp khung phân tích địa phương để đánh giá toàn diện năng lực cạnh tranh cụm ngành du lịch tỉnh Cà Mau.
  • Bức tranh thực trạng giai đoạn 2011 - 2017 cho thấy sự tăng trưởng ấn tượng về lượng khách từ 780.000 lên 1.240.000 lượt và doanh thu đạt 670 tỷ đồng, song mức độ đóng góp vào GRDP mới ở mức 1,2% đến 5%.
  • Nghiên cứu chỉ rõ các rào cản nội tại của cụm ngành gồm: hạ tầng giao thông kết nối chưa đồng bộ, cơ sở lưu trú cao cấp hạn chế, có tới 42,7% lao động chưa qua đào tạo chuyên môn và sản phẩm du lịch còn thiếu tính liên kết chuỗi giá trị.
  • Hệ thống 6 nhóm giải pháp hành động được đề xuất đồng bộ từ hoàn thiện quy hoạch, nâng cấp hạ tầng, đào tạo nhân lực đến xây dựng thương hiệu điểm đến, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ đóng góp GRDP của du lịch đạt trên 7% sau năm 2020.
  • Lộ trình tiếp theo đòi hỏi chính quyền tỉnh Cà Mau và các doanh nghiệp khẩn trương triển khai các chương trình liên kết vùng, hiện thực hóa Quy hoạch phát triển Khu du lịch quốc gia Mũi Cà Mau đến năm 2030 theo Quyết định số 744/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp quan tâm đến bài toán phát triển kinh tế du lịch bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long có thể tra cứu toàn văn luận văn để tiếp cận chi tiết hệ thống số liệu phân tích chuyên sâu.