CHƯƠNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH DỊCH VỤ TỔ CHỨC SỰ KIỆN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về dịch vụ tổ chức sự kiện và nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ tổ chức sự kiện 1. Khái niệm và các loại hình dịch vụ tổ chức sự kiện 1.
Khái niệm và đặc điểm của chuỗi nhà hàng Khái niệm của chuỗi nhà hàng Nhà hàng là một cơ sở kinh doanh chuyên chế biến và phục vụ các sản phẩm ăn uống nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu và các nhu cầu khác của khách hàng với mục đích chủ yếu là thu lợi nhuận. Như vậy, nhà hàng chính là một cơ sở kinh doanh về mặt pháp lý nó có thể mang tư cách là một doanh nghiệp độc lập, cũng có thể là một bộ phận trong khách sạn hay các cơ sở kinh doanh du lịch nào đó. Hoạt động của nhà hàng đó là chế biến và phục vụ các sản phẩm ăn uống. Tuỳ theo loại hình và điều kiện cụ thể của nhà hàng nó có thể có các loại sản phẩm khác nhau.
Vậy, chuỗi nhà hàng được hiểu là tập hợp các nhà hàng mà tất cả các nhà hàng đều có chung hoạt động giống nhau và góp phần gia tăng giá trị lợi nhuận của doanh nghiệp hay của cá nhân. Đặc điểm của chuỗi nhà hàng Chuỗi nhà hàng thường được phân loại hoạt động dưới hình thức tập đoàn, hợp đồng quản lý, hoặc nhượng quyền kinh doanh. Những nhà hàng này phải tuân thủ tất cả các tiêu chuẩn, quy trình, thậm chí thiết kế và phương pháp quản lý, tiếp thị. Nhìn chung, nếu càng tập trung hóa các quy trình thì khả năng kiểm soát các nhà hàng càng cao.
Thông thường, chuỗi nhà hàng là các nhà hàng theo mô hình thức ăn nhanh (fast-food), các mô hình quán café, nhà hàng dạng free-flow, quán bar. Sự khác biệt so với hình thức kinh doanh nhà hàng đơn lẻ là các chuỗi nhà hàng có thể giảm tối đa chi phí nhờ vào các mối hợp tác mang tính “đối tác lớn” với hầu hết các nhà cung cấp, được hưởng các chương trình ưu đãi khi nằm trong chương trình hợp tác mang tính dài hạn. Luan van 7 Hình ảnh 1.1: Sơ đồ chuỗi nhà hàng Việc tổ chức điều hành tập trung tại một văn phòng trung tâm cũng giảm thiểu các chi phí phát sinh trong việc điều hành, trang thiết bị, quản lý hành chính, kế toán. Tập trung một tiêu chuẩn đồng nhất trong việc tổ chức qui trình công nghệ sản xuất, bao gồm yêu cầu chất lượng nhà bếp, chất lượng phục vụ, phương thức tổ chức và nâng cao các chương trình chăm sóc khách hàng.
Như một kết quả tất yếu, mô hình kinh doanh nhà hàng theo dạng chuỗi luôn mang lại lợi nhuận cao và một thế mạnh cạnh tranh lớn trên thị trường. Đương nhiên, tham vọng đầu tư và xây dựng một chuối nhà hàng đòi hỏi nhà đầu tư một khoản đầu tư tương ứng để tổ chức công việc của tất cả các chi nhánh trong Doanh nghiệp. Đặc thù trong tổ chức công việc dạng chuỗi Khác với nhà hàng đơn lẻ, điều kiện công việc trong một chuỗi nhà hàng thường là: Khối lượng công giao dịch mua & bán hàng là rất lớn Các nhà hàng nằm ở nhiều khu vực khác nhau và dưới sự quản lý của một văn phòng trung tâm Luan van 8 Quá trình sản xuất (chế biến món ăn) và mức độ dịch vụ được đồng nhất theo một tiêu chuẩn (qui trình) chung. Đặc thù khác biệt trên là lý do bổ sung để phát triển mộ sơ đồ quản lý theo cấu trúc dạng mạng lưới (chuỗi).
Sơ đồ này chính là sự khác biệt cơ bản với nguyên tắc quản lý trong một nhà hàng đơn lẻ. Những đặc điểm khác biệt trong quản lý chuỗi nhà hàng: Theo dõi và kiểm soát hoạt động của toàn bộ các chi nhánh Tập trung hóa các giao dịch mua hàng với nhà cung cấp Giảm thiểu tối đa số lượng nhân viên nhờ vào việc tập trung hóa quản lý Quản lý giá mua vào tại từng địa điểm Phân tích hiệu quả của thực đơn Mở một nhà hàng mới theo mô hình có sẵn trong một khoảng thời gian ngắn nhất. Khái niệm dịch vụ và đặc trưng dịch vụ Có nhiều cách tiếp cận khi nghiên cứu về dịch vụ, do vậy có nhiều khái niệm dịch vụ. Có quan niệm cho rằng dịch vụ có thể được hiểu là hoạt động cung ứng lao động, khoa học kỹ thuật, nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu về sản xuất, kinh doanh, đời sống vật chất tinh thần, các hoạt động ngân hàng, tín dụng, bảo hiểm.
Trong kinh tế học hiện đại dịch vụ được quan niệm rộng rãi hơn nhiều. Dịch vụ bao gồm toàn bộ các ngành, các lĩnh vực có tạo ra tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hay tổng sản phẩm quốc dân (GNP) trừ các ngành sản xuất các sản phẩm vật chất như công nghiệp, nông nghiệp (bao gồm cả lâm, ngư nghiệp). Với các tiếp cận dưới góc độ là đối tượng hoạt động trao đổi (mua, bán) của thương mại thì có thể khái niệm về dịch vụ như sau : Dịch vụ là sản phẩm vô hình (phi vật thể) , được cung ứng ra thị trường với mục địch trao đổi (mua, bán). Là sản phẩm vô hình : Dịch vụ là của lao động con người , dịch vụ là sản phẩm nhưng khác với hàng hóa ở thuộc tính cơ bản nhất đó là tính “ vô hình” hay “ phi vật thể” được cung ứng ra thị trường với mục đích trao đổi (mua, bán) Sản xuất, lưu thông và quá trình tiêu dùng các dịch vụ diễn ra đồng thời: Đối Luan van 9 với một hàng hóa, quá trình sản xuất, quá trình lưu thông và quá trình tiêu dùng có thể tách rời độc lập với nhau.
Trong lưu thông hàng hóa, mua bán hàng hóa cũng có thể tách rời về không gian và thời gian. Nhưng tất cả những điều kể trên lại là không thể đối với trường hợp các dịch vụ cũng đồng thời xảy ra với quá trình sử dụng dịch vụ của người tiêu dùng theo không gian và thời gian. Sản phẩm dịch vụ không thể vận chuyển bằng các phương tiện vận tải, không thể “dự trữ” hay bảo quản trên các kho được: Đặc điểm này nảy sinh do tính chất vô hình của sản phẩm và do đặc điểm sản xuất lưu thông và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời mà chúng ta đã nói trên. Tính không đồng nhất và khó xác định về chất lượng của các sản phẩm dịch vụ: Một mặt, chất lượng dịch vụ cung ứng phụ thuộc rất lớn vào bản thân nhà cung cấp như trình độ, kỹ năng, nghệ thuật của người cung cấp yếu tố thời gian địa điểm, môi trường diễn ra sự trao đổi dịch vụ cũng như nhiều yếu tố khác… Mặt khác , chất lượng sản phẩm dịch vụ, lợi ích mà nó mang lại cho người tiêu dùng tùy thuộc vào sự cảm nhận của khách hàng (người sử dụng dịch vụ).
Những cảm nhận về lợi ích hay chất lượng này rất khác nhau tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố thuộc về khách hàng như: Nguồn gốc xã hội, trình độ văn hóa, hiểu biết, sở thích, kinh nghiệm sống… cũng được cung cấp một dịch vụ như nhau, nhưng khách hàng lại đánh giá chúng rất khách nhau. Do vậy, chất lượng dịch vụ thường không đồng nhất, hay dao động và việc đánh giá chúng thường khó thống nhất và mang tính tương đối. Khái niệm và các loại hình dịch vụ tổ chức sự kiện Khái niệm Sự kiện là một khái niệm rất rộng. Thuật ngữ sự kiện được mọi người nhắc đến hằng ngày, thế nhưng để đưa ra được khái niệm chính xác lại là một vấn đề không đơn giản.
Trên thế giới và cả ở Việt Nam vẫn đang tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về sự kiện: Luan van 10 - Theo từ điển Tiếng Việt, Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2003 : Sự kiện là việc quan trọng xảy ra. - Theo từ điển Tiếng Anh, Từ điển Anh - Anh -Việt của Nhà xuất bản Thống kê năm 2005 : Sự kiện là Event và có bốn nghĩa sau: + Là một sự việc, sự kiện; + Là một cuộc đấu (thể dục, thể thao), một cuộc thi; + Là trường hợp, khả năng có thể xảy ra; + Là kết quả. Về khía cạnh văn hóa – xã hội, sự kiện (event) là cách gọi ngắn gọn của thuật ngữ “tổ chức sự kiện” hay “sự kiện đặc biệt” (special event). Thuật ngữ “sự kiện đặc biệt” được dùng để mô tả các nghi lễ đặc biệt, giới thiệu, các buổi trình diễn, hay các lễ kỷ niệm được lập kế hoạch và được tạo ra để đánh dấu những dịp đặc biệt, hoặc để đạt những mục đích văn hoá – xã hội, hoặc mục đích hợp tác.
Các sự kiện quan trọng có thể bao gồm các ngày và các dịp lễ hội quốc gia, các dịp quan trọng của người dân, những buổi biểu diễn văn hóa độc đáo, những cuộc thi đấu thể thao quan trọng, hoạt động chức năng của tổ chức, phát triển thương mại và giới thiệu sản phẩm. Đôi khi có cảm giác rằng các sự kiện đặc biệt có mặt ở khắp mọi nơi; nó đã trở thành một ngành công nghiệp phát triển. Bất kỳ một lễ hội hay một hội nghị, hội họp, hội chợ hay triển lãm thì đều được coi là một sự kiện đặc biệt. Nó diễn ra khác với các chương trình hoạt động thông thường của các đơn vị chủ thể.
Sự kiện đặc biệt diễn ra thu hút sự chú ý của đông đảo người xem, cổ vũ và tham gia. Trong công trình đặt nền móng về loại hình các sự kiện Event Management and Event Tourism, Getz (1997, tr.4) cho rằng các sự kiện đặc biệt được định nghĩa chuẩn nhất trong bối cảnh của nó. Ông đã đưa ra hai định nghĩa: Định nghĩa 1: Đối với nhà tổ chức sự kiện, một sự kiện đặc biệt là sự kiện xảy ra một lần hoặc không thường xuyên bên ngoài các chương trình, hoặc các hoạt động thường xuyên của cơ quan tài trợ hoặc tổ chức. Luan van 11 Định nghĩa 2: Đối với khách hàng hoặc khách mời, một sự kiện đặc biệt là cơ hội thư giãn, trải nghiệm xã hội, hoặc trải nghiệm văn hóa bên ngoài những sự lựa chọn thông thường hoặc đằng sau những trải nghiệm hàng ngày.
Trong số những thuộc tính mà Getz cho rằng tạo ra không khí đặc biệt là tinh thần lễ hội, tính độc đáo, chất lượng, tính xác thực, truyền thống, lòng hiếu khách, chủ đề và chủ nghĩa tượng trưng.