Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao năng lực canh tranh dịch vụ thẻ và thanh toán không dùng tiền mặt của Ngân hàng thương mại Chương 2: Phương pháp thiết kế và nghiên cứu luận văn Chương 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh dịch vụ thẻ và thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam tại địa bàn Hà nội Chương 4: Các đề xuất và kiên nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam. 4 CHƢƠNG 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH DỊCH VỤ THẺ VÀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu đã được công bố Liên quan tới nội dung nâng cao năng lực cạnh tranh để phát triển sản phẩm, dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại đã có rất nhiều tác giả, đề tài nghiên cứu, các cuộc hội thảo, chuyên đề được tổ chức,… với nội dung hệ thống hóa các lý luận cơ bản về vai trò, lợi ích hoạt động phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM.
Có thể kể đến một số nghiên cứu sau: - Nghiên cứu về phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cho khu vực dân cư ở Việt Nam, do tác giả Đặng Công Hoàn thực hiện năm 2015. Dựa trên việc hệ thống hoá, phân tích và đánh giá lý luận, thực tiễn, luận án đã đưa ra những nhận định, phân tích đánh giá về vai trò, lợi ích của hoạt động phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế và các tác động lan tỏa của phát triển dịch vụ này cho khu vực dân cư đối với nền kinh tế. Đề tài này chuyên sâu nghiên cứu về khía cạnh phát triển dịch vụ thanh toán qua thẻ hoặc qua dịch vụ thanh toán điện tử. - Nghiên cứu về nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ thanh toán thẻ tự động (ATM) của ngân hàng TMCP Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam, do tác giả Trương Minh Hoàng thực hiện năm 2010.
Luận văn này đã phân tích khá chi tiết về khái niệm năng lực cạnh tranh, sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh. Đồng thời tác giả cũng nêu lên một số kiến nghị đề xuất với các tổ chức quản lý nhằm hoàn thiện và phát triển hơn dịch 5 vụ thanh toán thẻ tự động. Đề tài này chú trọng vào khía cạnh dịch vụ thanh toán của thẻ, các yếu tố làm gia tăng tính cạnh tranh của Dịch vu Thẻ giữa các NHTM trên thị trường Việt Nam hiện nay. - Nghiên cứu về đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam do tác giả Đỗ Thị Tố Quyên thực hiện năm 2012.
Luận văn đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, đó là những vấn đề rất chung về năng lực cạnh tranh về các tiêu chí năng lực tài chính, năng lực quản tri điều hành, năng lực hoạt động, năng lực công nghệ, năng lực của đội ngũ cán bộ, năng lực hệ thống phân phối. Những nội dung còn trống để thực hiện nghiên cứu Có thể nói đề tài về nâng cao năng lực cạnh tranh dich vụ thẻ và thanh toán không dùng tiền mặt không mới, tuy nhiên còn ít người nghiên cứu, tại mỗi một tổ chức tín dụng lại có những đặc trưng, chính sách đầu tư khác nhau, trong không gian và thời gian khác nhau nên việc đưa ra giải pháp để áp dụng hiệu quả việc nâng cao năng lực cạnh tranh có thế khác nhau. Qua tham khảo nội dung những nghiên cứu trên, tác giả đã phần nào có những định hướng căn bản và góc nhìn mới để bổ sung nhằm hoàn thiện hơn cho luận văn của mình.
Vì vậy qua luận văn nghiên cứu này, tác giả hy vọng sẽ nêu lên được thực trạng tổng thể về các điểm mạnh, điểm yếu trong công tác quản trị và phát triển dịch vụ thẻ, cũng như đưa ra được một số giải pháp thích hợp để góp phần nâng cao năng lưc cạnh tranh sản phẩm dịch vụ thẻ và thanh toán không dùng tiền mặt tại Techcombank trên thị trường. Các vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh Dich vụ thẻ và thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng thƣơng mại 1. Tổng quan về dịch vụ thẻ và thanh toán không dùng tiền mặt 1. Khái niệm chung a) Khái niệm dịch vụ thẻ 6 Thẻ ngân hàng (tiền điện tử) là phương tiện thanh toán hiện phổ biến trên thế giới ngày nay, ra đời từ phương thức mua bán chịu hàng hoá bán lẻ và phát triển gắn liền với sự ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực ngân hàng.
Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành (NHPH) cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư của mình ở tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được cấp theo hợp đồng ký kết giữa NHPH và chủ thẻ. Cơ sở chấp nhận thẻ và đơn vị cung ứng dịch vụ rút tiền mặt đòi tiền chủ thẻ thông qua ngân hàng thanh toán (NHTT) và NHPH. Thẻ ngân hàng luôn được làm bằng Nhựa (plastic) theo kích cỡ tiêu chuẩn quốc tế và bao gồm các yếu tố sau: - Nhãn hiệu thương mại của thẻ, tên và logo của ngân hàng và tổ chức phát hành thẻ - Thời hạn hiệu lực/thời gian tham gia sử dụng thẻ - Hạng thẻ (vàng/chuẩn/đặc biệt) - Số thẻ, tên chủ thẻ, các yếu tố bảo mật - Ngoài ra, thẻ còn có thể có tên công ty chịu trách nhiệm thanh toán hoặc thêm một số yếu tố khác theo quy định của Tổ chức thẻ quốc tế (TCTQT). Đặc điểm của dịch vụ Thẻ - Trong số các sản phầm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ, dịch vụ thẻ ngân hàng mang những đặc điểm riêng nhất định : Thứ nhất dịch vụ thẻ ngân hàng là sự phát triển cao của hoạt động phân phối của ngân hàng là kết quả của sự phát triển khoa học và công nghệ (đặc biệt là điện tử, tin học viễn thông) với quá trình tự do hoá và toàn cầu hoá của các hoạt động dịch vụ tài chính-ngân hàng và đặc biệt là sự phát triển mạng lưới toàn cầu của các ngân hàng và sự liên kết giữa các ngân hàng thành một khối thống nhất trên cơ sở một trung tâm thanh toán bù trừ.
7 Thứ hai dịch vụ thẻ ngân hàng mang lại nhiều tiện ích không chỉ đối với nền kinh tế và hệ thống ngân hàng mà còn với những chủ sử dụng thẻ. Tuy nhiên bên cạnh những tiễn ích, dịch vụ thẻ là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro và tổn thất. Thứ ba so với các công cụ thanh toán khác thì chi phí đầu tư đối với lĩnh vực thẻ trong việc xây dựng hệ thống phát hành và thanh toán thẻ là rất lớn, thời gian hoàn vốn dài. Thứ tư dịch vụ thẻ ngân hàng đòi hỏi một đội ngũ cán bộ giỏi chuyên môn, nghiệp vụ và kinh nghiệm xử lý để đảm bảo thông suốt và an toàn trong hoạt động thẻ và đáp ứng yêu cầu của các TCTQT.
Thứ năm không giống như các sản phẩm, dịch vụ khác, loại hình dịch vụ thẻ ngân hàng mang tính đồng nhất cao, sự khác biệt hoá sản phẩm hầu như không có. Do vậy, để thắng lợi trong cạnh tranh các ngân hàng thường tập trung vào các hoạt động liên quan đến việc marketing sản phẩm, dịch vụ sau bán hàng. hơn là tập trung nghiên cứu tạo ra sự khác biệt về đặc tính giữa các sản phẩm. b) Khái niệm dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt Theo nghị đinh số 101/2012/NĐ-CP Chính Phủ về thanh toán không dùng tiền mặt là nghiệp vụ chi trả tiền hàng hóa và các khoản thanh toán khác trong nền kinh tế được thực hiện bằng cách trích tài khoản trong hệ thống cung ứng dịch vụ thanh toán (gọi chung là ngân hàng) mà không sử dụng tiền mặt để thanh toán.
Như vậy, thanh toán không dùng tiền mặt là nghiệp vụ trung gian của ngân hàng. Ngân hàng chỉ thực hiện thanh toán khi có lệnh của chủ tài khoản, bao gồm các tổ chức kinh tế, đơn vị cá nhân mở tài khoản tại Ngân hàng. Thanh toán không dùng tiền mặt bao gồm có 4 bên: - Bên mua hàng hay nhận dịch vụ cung ứng 8 - Ngân hàng phục vụ bên mua, tức là Ngân hàng nơi đơn vị mua mở tài khoản giao dịch - Bên bán, tức là bên cung ứng dịch vụ và hàng hóa - Ngân hàng phục vụ bên bán, tức là ngân hàng nơi đơn vị bán mở tài khoản giao dịch Đặc điểm của thanh toán không dùng tiền mặt : Thứ nhất sự vận động của tiền tệ độc lập với sự vận động của vật tư hàng hóa cả về không gian lẫn thời gian. Việc giao hàng được tiến hành ở nơi này, trong thời gian này nhưng thanh toán có thể được thực hiện ở nơi khác, vào khoảng thời gian khác.
Đây là đặc điểm thanh toán của thanh toán không dùng tiền mặt, đặc biệt thể hiện rõ trong các hoạt động thanh toán quốc tế. Thứ hai thanh toán không dùng tiền mặt nghĩa là không có sự xuất hiện của tiền mặt trong thanh toán, tiền mặt chỉ hiện diện trong sổ sách, chứng từ kế toán. Để làm được như vậy, bắt buộc các bên tham gia thanh toán phải có tài khoản tại ngân hàng để tham gia giao dịch. Như vậy, vai trò của ngân hàng trong thanh toán không dùng tiền mặt là vô cùng quan trọng, ngân hàng là một khâu trung gian trong việc thanh toán thông qua lệnh chuyển tiền của các bên tham gia.
Nếu ngân hàng làm tốt vai trò của mình thì việc hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng sẽ phát triển mạnh mẽ và ngược lại. Chính vì thế, thanh toán không dùng tiền mặt có một số ưu điểm như: - Không có sự hiện diện của tiền mặt nên sẽ tiết kiệm được lượng tiền mặt trong lưu thông, tiết kiệm được chi phí phát hành, bảo quản, thay thế tiền mới, tiền dễ bị mất cắp, tiền giả… - Tiết kiệm được chi phí giao dịch do không phải mang theo lượng tiền mặt lớn khi thanh toán và an toàn cho người cầm tiền. Ngân hàng sẽ chuyển tiền khi khách hàng có yêu cầu. Phí giao dịch này rất thấp.