PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thị trường chứng khoán (TTCK) đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới nhưng mới chỉ được thành lập tại Việt Nam chưa đầy một thập kỷ. Trước năm 2000, thuật ngữ TTCK còn khá xa lạ. Từ cuối tháng 7 năm 2000, TTCK Việt Nam đi vào hoạt động nhưng chưa có dấu hiệu của sự sôi nổi, đối tượng tham gia chủ yếu là các công ty chứng khoán (CTCK) và một số ít nhà đầu tư cá nhân.
Đến cuối năm 2006, TTCK Việt Nam mới thực sự bùng nổ. Có được kết quả này là do định hướng phát triển và hội nhật kinh tế đúng đắn của Đảng và Chính phủ, do môi trường đầu tư tại Việt Nam ngày càng thuận lợi hơn. Trước cơ hội TTCK Việt Nam phát triển chưa từng thấy, các đối tượng tham gia thị trường đã tận dụng nhiều nguồn lực để đầu tư kiếm lời. TTCK Việt Nam đã được ví như “cỗ máy hái ra tiền” hiệu quả thứ hai trên thế giới, chỉ sau TTCK Zimbabwe, đó là lý do khiến giới đầu tư không thể đứng ngoài cuộc.
Cũng xuất phát từ lợi ích không nhỏ đó, cuộc cạnh tranh giữa các chủ thể thị trường được đẩy lên cao hơn bao giờ hết. Trên phương diện nhà đầu tư, các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài liên tục mở tài khoản giao dịch tại các CTCK, số lượng tài khoản và lượng tiền đổ vào thị trường tăng vọt theo từng ngày, các CTCK phục vụ hết công suất nhưng đôi lúc cũng không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Một số CTCK lớn đã phải hạn chế lượng khách hàng đến giao dịch. Trên phương diện trung gian thị trường, các CTCK cũng cạnh tranh nhau gay gắt để giành lấy thị phần.
Đổi mới công nghệ, miễn và giảm phí môi giới, dịch vụ khách hàng tốt, tặng tiền khi khách hàng mở tài khoản giao dịch… là những chính sách thu hút khách hàng khá hiệu quả của một số CTCK mới gia nhập thị trường. Với chi phí thành lập và duy trì hoạt động rất lớn, nhiều CTCK mới đã có sự khởi đầu tốt đẹp song lại sớm gặp khó khăn, thậm chí hoạt động cầm chừng trong những giai đoạn thị trường trồi sụt. Trái lại, một số CTCK mới khác đã phát triển bền vững, tăng dần thị phần và khẳng định được vị 1 thế nhờ vào định hướng chiến lược đúng đắn và nắm bắt chính xác nhu cầu khách hàng. Nhóm công ty này thực sự là đối thủ cạnh tranh của một số CTCK lớn đi đầu đang có dấu hiệu chững lại.
Sức mạnh cạnh tranh còn có thể lớn hơn khi nhiều CTCK nước ngoài đang chờ cấp phép thành lập và hoạt động trên TTCK Việt Nam. Công ty Chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agriseco) là CTCK thứ 8 ra đời ở nước ta với 100% vốn được cấp từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank). Ngay từ những ngày đầu thành lập, Agriseco có thế mạnh riêng là kinh doanh trái phiếu. Đây là thế mạnh, cũng chính là một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến năng lực cạnh tranh không cao của Agriseco trong các nghiệp vụ kinh doanh.
Xuất phát từ thực tế đó và trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay, tác giả đã chọn đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” để triển khai luận văn tốt nghiệp chương trình Cao học về Kinh tế Thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế. Tình hình nghiên cứu Nghiên cứu về chứng khoán và TTCK trên thế giới đã được thực hiện từ rất lâu trên nhiều phương diện khác nhau. Tại Việt Nam, trước khi xuất hiện TTCK vào tháng 7 năm 2000 cũng đã có những giáo trình, bài viết nhận định và phân tích tổng quan về mặt lý thuyết và một số đánh giá thực tế TTCK thế giới. Đến khi TTCK Việt Nam đi vào hoạt động, các bài viết, nghiên cứu, phân tích về thị trường và các chủ thể thị trường mới đa dạng và đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau.
Tuy vậy, những nghiên cứu về CTCK, đặc biệt là năng lực cạnh tranh của các CTCK chưa nhiều và mới chỉ được thực hiện bởi Trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Đào tạo chứng khoán - Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN). Một số đề tài điển hình như: - Những vấn đề cơ bản trong việc hình thành và phát triển công ty chứng khoán Việt Nam. 2 - Những cơ sở lý luận thực hiện tin học hoá công tác kế toán tại các công ty chứng khoán. - Giải pháp tin học quản lý khách hàng tại công ty chứng khoán Việt Nam.
- Giải pháp kết nối thông tin giữa TTGDCK và công ty chứng khoán. - Vai trò của công ty chứng khoán trong hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán cho khách hàng. - Các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của các tổ chức trung gian trong việc hỗ trợ phát hành chứng khoán ra công chúng. - Giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh tra, giám sát công ty chứng khoán.
- Giải pháp hoàn thiện mối quan hệ giữa công ty chứng khoán và khách hàng. - Các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức cung ứng dịch vụ chứng khoán trong điều kiện hội nhập. Còn lại đa số là các bài báo, phân tích, nhận định mang tính thời sự về chứng khoán, TTCK và các CTCK đang hoạt động tại Việt Nam. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.
Mục đích nghiên cứu Đề tài được thực hiện với mục đích đưa ra đánh giá về năng lực cạnh tranh của Agriseco sau bảy năm hoạt động, đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Agriseco trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của Agriseco trên TTCK Việt Nam; - Tìm giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Agriseco. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4. Đối tượng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của Agriseco trên TTCK Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi TTCK Việt Nam, có tham khảo thông tin về TTCK ở một số quốc gia khác trên thế giới. Tác giả tiến hành nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến cuối năm 2007. Phương pháp nghiên cứu Bên cạnh phương pháp truyền thống là dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin để xem xét các hiện tượng, trong luận văn này, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây để làm rõ các luận điểm của mình. - Phương pháp phân tích SWOT: để làm sáng tỏ thế mạnh, điểm yếu của Agriseco cũng như những cơ hội, thách thức đặt ra.
- Phương pháp lịch sử: để nhìn nhận lại một số vấn đề, thực tế đã diễn ra trong quá khứ, từ đó xây dựng nền tảng cho các phân tích trong luận văn. - Phương pháp so sánh: để đánh giá năng lực cạnh tranh của Agriseco với các CTCK khác qua các con số và các hiện tượng. - Phương pháp thống kê: để thu thập và xử lý các số liệu cho phù hợp với mục đích sử dụng trong luận văn. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn - Đánh giá đúng năng lực cạnh tranh của Agriseco sau bảy năm hoạt động; - Khuyến nghị một số định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của Agriseco trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
4 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CHỦ YẾU 1. Khái niệm CTCK và phân loại 1. Khái niệm CTCK TTCK là một bộ phận của thị trường tài chính, có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình huy động và sử dụng vốn cho nền kinh tế.
Để hình thành và phát triển TTCK có hiệu quả không thể thiếu các chủ thể tham gia kinh doanh trên TTCK. Trên thị trường, chứng khoán được các tổ chức phát hành bán cho nhà đầu tư cũng như được mua đi bán lại giữa các nhà đầu tư với nhau. Tuy nhiên, giao dịch trên TTCK không phải được thực hiện trực tiếp giữa người mua và người bán mà phải qua các trung gian chủ yếu là các CTCK. Có thể hiểu, CTCK là một tổ chức kinh doanh chứng khoán, có tư cách pháp nhân, có vốn riêng và thực hiện các nghiệp vụ trên TTCK.
Hiện nay chưa có một định nghĩa nào thực sự rõ ràng về CTCK, nhưng định nghĩa phổ biến nhất là: “Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán”. CTCK đóng vai trò là tổ chức trung gian trong các giao dịch trên TTCK, là nơi kết nối và thực hiện giao dịch giữa người mua và người bán. Bên cạnh đó, CTCK còn là trung gian về thông tin, cung cấp thông tin tư vấn, các sản phẩm nghiên cứu nhằm hỗ trợ nhà đầu tư chọn lựa được các chứng khoán cho danh mục đầu tư của mình. CTCK cũng là trung gian về vốn khi đóng vai trò là cầu nối giữa nhà đầu tư và tổ chức phát hành,… Tại Việt Nam, trong Luật Chứng khoán và các nghị định hướng dẫn đều không nêu định nghĩa hay khái niệm CTCK.
Duy chỉ trong Quyết định 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007 của Bộ Tài chính có quy định: “Công ty chứng khoán là tổ chức có 5 tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán”. Phân loại CTCK Hiện nay trên thế giới, các CTCK có rất nhiều hình thức pháp lý như quốc doanh, cổ phần, trách nhiệm hữu hạn, liên doanh, doanh nghiệp tư nhân… Theo Luật Chứng khoán hiện hành, các CTCK hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam chỉ có hai hình thức pháp lý là công ty cổ phần hoặc trách nhiệm hữu hạn. Quy định này giúp CTCK có khả năng huy động vốn lớn và chia sẻ rủi ro trong phạm vi vốn góp. Hoạt động của các CTCK rất đa dạng và phức tạp, khác hẳn với các doanh nghiệp sản xuất hay thương mại thông thường vì môi trường hoạt động là TTCK - thị trường tài chính bậc cao của nền kinh tế thị trường.