Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC TRƯỜNG NGOÀI CÔNG LẬP 1. Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của các trường ngoài công lập 1. Cơ sở lý luận về các trường ngoài công lập 1. Khái niệm Trong hệ thống giáo dục Việt Nam đang tồn tại 2 loại hình giáo dục: Công lập, và ngoài công lập.
Hệ thống giáo dục công lập là trường học do nhà nước (trung ương hoặc địa phương) đầu tư về kinh phí và cơ sở vật chất (đất đai, nhà cửa) và hoạt động chủ yếu bằng kinh phí từ các nguồn tài chính công hoặc các khoản đóng góp phi vụ lợi. Nó khác hoàn toàn về bản chất cũng như phương pháp hoạt động của các trường ngoài công lập.Vậy, hệ thống giáo dục ngoài công lập là gì? Hệ thống giáo dục ngoài công lập ở Việt Nam có rất nhiều cách phân chia, nhưng tựu chung lại nó bao gồm các loại hình chính đó: Bán công, dân lập và tư thục, trường quốc tế. Hệ thống các trường ngoài công lập là trường học hoạt động bằng kinh phí đóng góp của học sinh, khách hàng và các khoản hiến tặng. Như vậy, có thể thấy các trường ngoài công lập hoạt động dựa trên cơ chế chủ yếu từ nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước, thu hút các nguồn lực xã hội để làm giáo dục, tuân thủ pháp luật hiện hành, phù hợp với Điều lệ giáo dục Việt Nam.
Hệ thống các trường ngoài công lập là hệ thống là do các nhà đầu tư bao gồm các tổ chức, cá nhân đứng ra thành lập. Tuân thủ theo quy định của Luật giáo dục. * Khái niệm của từng loại hình trường NCL: Trường Dân lập: Trường dân lập là trường do cộng đồng dân sư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động. Trường tư thục: Trường tư thục là trường do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và đảm bảo kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước Trường bán công: Trường bán công là trường hoạt động dưới cơ chế nhà nước và phụ huynh cùng chung tay xây dựng và đóng góp kinh phí nhằm đảm bảo khả năng hoạt động cho nhà trường.
6 Ngoài ra, còn có loại hình trường với 100% vốn nước ngoài: là trường do các nhà đầu tư nước ngoài đóng góp 100% vốn, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và đảm bảo kinh phí hoạt động. Sự giống và khác giữa trường công lập và trường ngoài công lập Điểm giống nhau Trường công lập và ngoài công lập có những đặc trưng cơ bản đồng nhất với nhau. Tính đồng nhất đó được thể hiện ở những nội dung sau: - Thứ nhất: Trường ngoài công lập và trường công lập đều là tổ chức cơ sở trong hệ thống giáo dục: điều kiện thủ tục thành lập trường như nhau do Bộ giáo dục và Đào tạo thẩm định, Thủ tướng ra quyết định dựa trên cơ sở bảo đảm những điều kiện về thành lập và hoạt động của trường. Địa vị pháp lý, sản phẩm đầu ra các hoạt động cơ bản, cán bộ, giảng viên và người học đều có quyền bình đẳng trước pháp luật.
Hoạt động của trường đều dựa trên nguyên tắc không vụ lợi. - Thứ hai: Tổ chức, cơ chế, công cụ và mục tiêu quản lý Nhà nước với hai loại hình trường ngoài công lập và công lập về cơ bản là như nhau, vì các hoạt động cơ bản của trường như: Đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ và hoạt động dịch vụ khác đều phải tuân theo quy chế chung do bộ GD&ĐT và các Bộ, ngành khác quy định. Quản lý Nhà nước đều nhằm bảo đảm các hoạt động của trường vận hành phù hợp với các quy luật khách quan, tuân thủ đúng pháp luật, phải đáp ứng tốt nhất mục tiêu, yêu cầu quản lý Nhà nước, đảm bảo lợi ích hợp lý, chính đáng của người học. - Thứ ba: Nguồn tài chính đầu tư xây dựng cơ sở vật chất của nhà trường đều từ nguồn thu nhập quốc dân, của nhân dân.
Sự khác nhau cơ bản: - Về mặt sở hữu: Trường công lập do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đảm bảo kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên. Chính vì vậy, chủ sở hữu ở các trường này là của nhà nước, của toàn dân. Còn trường ngoài công lập là do các nhà đầu tư bao gồm các tổ chức, cá nhân đứng ra thành lập, chủ sở hữu là các cổ đông, các nhà sáng lập. - Về mặt tài chính: Nguồn ngân sách của các trường công lập lấy trực tiếp từ nguồn ngân sách nhà nước, mà ngân sách có được chủ yếu từ thuế của công dân 7 đóng góp.
Còn các trường ngoài công lập nguồn tài chính được lấy từ nguồn ngoài ngân sách, do các nhà đầu tư trực tiếp đóng góp. Đây là một đặc trưng khác nhau cơ bản giữa hai loại hình trường công lập và ngoài công lập. Tuy nhiên, ngay cả đặc trưng khác nhau này cũng dần dần được thu hẹp. Nhà nước tuy không trực tiếp lấy từ nguồn ngân sách để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho các trường ngoài công lập nhưng nhà nước đã dùng chính sách kinh tế khác để gián tiếp đầu tư, như chính sách: miễn giảm thuế, ưu đãi lãi suất tín dụng đầu tư; giảm thuế thu nhập; miễn thuế trước bạ và quyền thuê đất,… Nhờ đó mà các trường ngoài công lập tăng kinh phí xây dựng cơ sở vật chất.
- Mặt khác, nhà nước lại có những chính sách hạn chế bao cấp, nâng cao mức độ xã hội hóa đầu tư tài chính cho các trường công lập và đại học ngoài công lập. Cụ thể là, ngày 24.2014 Thủ tướng chính phủ đã ra quyết định cho phép một số các trường công lập tự chủ, tự chịu trác nhiệm về các hoạt động của mình. Trong đó, điểm quan trọng nhất là tự hạch toán cân đối về tài chính, không còn được nhà nước bao cấp như trước đây. Điều này đã một phần thể hiện sự bình đẳng giữa các trường công lập và ngoài công lập.
- Trường ngoài công lập trong hoạt động và quản lý các quan hệ tài chính có sự khác nhau về luân chuyển nguồn vốn đầu tư vào cơ sở vật chất. Còn các quan hệ tài chính khác như: Thu học phí, đảm bảo chi phí thường xuyên; phân phối thu nhập để hình thành quỹ tiền lương, quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng, quỹ đầu tư phát triển,… không thể khác với các trường công lập. Về quản lý các hoạt động tài chính cũng phải đảm bảo quyền tự chủ đi đôi với tự chịu trách nhiệm. Tính minh bạch công khai, giải quyết hài hòa giữa các chủ thể pháp nhân: người góp vốn; người góp tài sản trí tuệ và công sức.
- Về mặt tổ chức nhân sự: Cơ cấu tổ chức nhân sự của trường công lập và ngoài công lập khác nhau ở chỗ: Trường công lập có Hội đồng trường. Chủ tịch Hội đồng trường do đại diện của các phòng, các khoa và các đơn vị trong nhà trường bầu ra; Hiệu trưởng nhà trường do BGD&ĐT ra quyết định. Còn các trường ngoài công lập thì có HĐQT. Chủ tịch HĐQT do Đại hội đồng cổ đông bầu ra; Hiệu trưởng do HĐQT đề xuất và được BGD&ĐT hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh ra quyết định công công nhận.
Việc ra quyết định bổ nhiệm Hiệu trưởng (đối với trường công lập) hoặc ra các quyết định khác do HĐQT đưa ra. 8 - Về mục tiêu hoạt động: Trường công lập hoạt động vì mục tiêu xã hội. Còn trường NCL là trường được hình thành từ các cổ đông, nhà đầu tư. Do đó bên cạnh mục tiêu xã hội thì các trường NCL còn hướng tới mục tiêu lợi nhuận.
Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của các trường PTTH 1. Các khái niệm cơ bản * Khái niệm về cạnh tranh: Tuy cạnh tranh là vấn đề phổ biến và được nghiên cứu từ rất lâu nhưng vì cạnh tranh là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau nên cho đến nay trên thế giới vẫn chưa có khái niệm thống nhất về cạnh tranh của doanh nghiệp. Do vậy, để đưa ra khái niệm này một cách có căn cứ, cần điểm lại một số lý thuyết về cạnh tranh trên thế giới và trong nước. Cạnh tranh gắn liền với hành vi của chủ thể như các doanh nghiệp, các cá nhân kinh doanh hay một nền kinh tế.
Trong quá trình cạnh tranh với nhau, để giành lợi thế về phía mình, các chủ thể phải áp dụng nhiều biện pháp nhằm duy trì và phát triển vị thế của mình trên thị trường. Đã có rất nhiều định nghĩa về năng lực cạnh tranh được đưa ra, ví dụ: Theo tác giả Đặng Đức Thành trong nghiên cứu Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thời hội nhập cho rằng: “Cạnh tranh là một quan hệ kinh tế, tất yếu phát sinh trong cơ chế thị trường với việc các chủ thể kinh tế ganh đua gay gắt để giành giật những điều kiện có lợi về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng để thu được lợi nhuận cao nhất. Mục đích cuối cùng trong cuộc cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích đối với doanh nghiệp và đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi”. Tại diễn đàn Liên hợp quốc trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm 2003 thì định nghĩa cạnh tranh đối với một quốc gia là “Khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt đựơc các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của tổn sản phẩm quốc nội (GDP) tính trên đầu người theo thời gian”.
Từ những nhận định trên, khái niệm cạnh tranh trong kinh doanh có thể hiểu như sau: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau 9 tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng, cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích. Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi. Cạnh tranh cũng luôn tồn tại hai mặt của một vấn đề đó là mặt tích cực và mặt tiêu cực.