Tổng quan nghiên cứu

Năm 2007 đánh dấu mốc thời gian đặc biệt quan trọng của nền kinh tế Việt Nam khi chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc gia thời điểm này đạt mức ấn tượng 8,5% với tổng sản phẩm quốc nội đạt khoảng 1.144 nghìn tỷ đồng, tương đương 71,3 tỷ USD. Trong bức tranh chung đó, toàn bộ hệ thống ngân hàng đóng góp từ 16% đến 18% GDP và cung ứng gần 50% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đóng vai trò huyết mạch của nền kinh tế. Tuy nhiên, cam kết mở cửa thị trường tài chính theo lộ trình WTO đã mang lại sức ép cạnh tranh khốc liệt khi thị trường phải đối mặt với các định chế tài chính toàn cầu có tiềm lực vốn hàng chục tỷ USD.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là việc đánh giá một cách khoa học, toàn diện năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại nhà nước trong nước, cụ thể là trường hợp của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV). Đề tài hướng tới ba mục tiêu cụ thể: hệ thống hóa lý luận về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại; phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh cùng các điểm mạnh, điểm yếu của BIDV trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2007; và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao sức cạnh tranh trong tiến trình cổ phần hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hoạt động kinh doanh, các chỉ số an toàn tài chính và môi trường cạnh tranh tại thị trường Việt Nam. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc xác lập giải pháp đưa chỉ số an toàn vốn CAR đạt trên 11,6%, kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ nợ xấu dưới 4%, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động với tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ROE đạt trên 13%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng các học thuyết kinh tế kinh điển và lý thuyết quản trị hiện đại. Trọng tâm là mô hình năm lực lượng cạnh tranh của Michael Porter (bao gồm đối thủ tiềm năng, đối thủ cạnh tranh trong ngành, quyền lực thương lượng của người mua, quyền lực của nhà cung ứng và nguy cơ từ sản phẩm thay thế) cùng chiến lược khác biệt hóa sản phẩm và tối ưu hóa chi phí. Bên cạnh đó, luận văn kết hợp lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo và mô hình Heckscher - Ohlin về chi phí các yếu tố sản xuất như vốn và lao động.

Hệ thống khái niệm chính trong đề tài bao gồm: Cạnh tranh (mối quan hệ ganh đua kinh tế nhằm tối đa hóa lợi ích thị phần và lợi nhuận); Lợi thế cạnh tranh (những yếu tố khác biệt hóa hoặc ưu thế chi phí vượt trội so với đối thủ); và Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại (khả năng tích hợp nguồn lực nội tại để đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng, duy trì lợi nhuận và gia tăng thị phần bền vững). Sức cạnh tranh của ngân hàng được đo lường thông qua hệ thống 11 chỉ tiêu định lượng và định tính toàn diện: thị phần, vị thế tài chính (quy mô vốn, hệ số CAR tối thiểu 8% theo Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN, chất lượng tài sản có, ROA tối thiểu 1%, ROE tối thiểu 15%, tính thanh khoản), sự đa dạng và chất lượng sản phẩm, giá cả, trình độ quản trị điều hành, chất lượng nguồn nhân lực, trình độ công nghệ thông tin, kênh phân phối, năng lực nghiên cứu phát triển, hoạt động tiếp thị xúc tiến và giá trị thương hiệu.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm toàn bộ báo cáo thường niên, báo cáo tài chính đã được kiểm toán độc lập 11 năm liên tục theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS) của BIDV giai đoạn 2001-2007. Dữ liệu đối sánh được thu thập từ báo cáo hoạt động của Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Thế giới và Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (giai đoạn 2006-2007 Việt Nam xếp hạng 77 trên 125 quốc gia).

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu định hướng toàn diện với cỡ mẫu bao gồm 4 ngân hàng thương mại quốc doanh lớn nhất Việt Nam (BIDV, Vietcombank, VietinBank, Agribank) cùng 2 ngân hàng thương mại cổ phần tiêu biểu (ACB, Sacombank) và khối chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Phương pháp phân tích kết hợp giữa thống kê mô tả, phân tích chỉ số tài chính, phương pháp so sánh đối chuẩn và xây dựng ma trận hình ảnh cạnh tranh. Lý do lựa chọn hệ thống phương pháp này là nhằm lượng hóa chính xác thực lực tài chính, xác định rõ khoảng cách năng lực giữa ngân hàng thương mại trong nước với các chuẩn mực quốc tế như Basel, từ đó đưa ra các căn cứ khoa học khách quan. Toàn bộ quá trình nghiên cứu và xử lý số liệu được triển khai từ năm 2007 đến năm 2008.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô hoạt động và năng lực huy động vốn của BIDV đạt tốc độ tăng trưởng rất cao. Đến hết năm 2007, tổng tài sản của ngân hàng đạt 204.000 tỷ đồng, tăng 21,7% so với năm 2006. Tổng nguồn vốn huy động đạt 146.000 tỷ đồng (tăng 20%) và tổng dư nợ tín dụng đạt 125.710 tỷ đồng (tăng 25,4%). Đặc biệt, vốn chủ sở hữu tăng trưởng vượt bậc từ 479 tỷ đồng năm 2001 lên mức 7.699 tỷ đồng năm 2007, tương đương mức tăng hơn 16 lần.

Thứ hai, hiệu quả kinh doanh và khả năng sinh lời có sự bứt phá rõ nét. Chênh lệch thu chi năm 2007 đạt 5.400 tỷ đồng, tăng 55,5% so với năm 2006 và đạt 108% kế hoạch năm. Lợi nhuận trước thuế ghi nhận 2.000 tỷ đồng, đạt mức tăng trưởng 49,3%. Cơ cấu thu nhập có chuyển biến tích cực khi thu dịch vụ ròng đạt 870 tỷ đồng, tăng 55% so với năm trước.

Thứ ba, công tác kiểm soát rủi ro và quản trị chất lượng tài sản đạt chuẩn mực quốc tế. BIDV là ngân hàng tiên phong thực hiện phân loại nợ theo Điều 7 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN. Nhờ đó, tỷ lệ nợ xấu giảm mạnh từ mức 9,1% đầu năm 2006 xuống mức dưới 4% vào cuối năm 2007. Ngân hàng đã thực hiện trích lập đầy đủ 3.400 tỷ đồng quỹ dự phòng rủi ro (tăng 59,4%) và thu hồi nợ xử lý rủi ro ngoại bảng đạt 1.870 tỷ đồng (đạt 199% kế hoạch).

Thứ tư, hệ số an toàn vốn và các chỉ số sinh lời được cải thiện vững chắc. Hệ số CAR theo chuẩn VAS năm 2007 đạt 11,6% (vượt xa quy định tối thiểu 8%), hệ số CAR theo chuẩn IFRS đạt 7,57%. Chỉ số ROA đạt 0,85% (tăng 0,41% so với 2006) và chỉ số ROE đạt 13% (tăng 1,4% so với năm 2006).

Thảo luận kết quả

Sự cải thiện vượt bậc về năng lực tài chính bắt nguồn từ quyết sách bổ sung 3.400 tỷ đồng vốn điều lệ từ ngân sách nhà nước năm 2007, kết hợp với dòng vốn từ Dự án Tài chính nông thôn II trị giá 200 triệu USD do Ngân hàng Thế giới tài trợ. Về mặt trình bày trực quan, dữ liệu nghiên cứu có thể được thể hiện qua biểu đồ đường minh họa sự tăng trưởng vốn chủ sở hữu giai đoạn 2001-2007 để thấy rõ tốc độ mở rộng nguồn lực nội tại. Đồng thời, biểu đồ cột so sánh vốn tự có năm 2007 cho thấy tổng vốn tự có của BIDV đạt 14.030 tỷ đồng (vốn cấp 1 đạt 10.800 tỷ đồng, vốn cấp 2 đạt 3.230 tỷ đồng), giữ vị trí hàng đầu trong khối ngân hàng thương mại quốc doanh.

Tuy nhiên, khi so sánh với đối thủ cạnh tranh, mức vốn chủ sở hữu 7.699 tỷ đồng (tương đương 481 triệu USD) của BIDV vẫn còn khoảng cách rất lớn so với các tập đoàn tài chính đa quốc gia như Citigroup hay HSBC vốn có quy mô vốn hàng chục tỷ USD. Khối ngân hàng thương mại cổ phần như ACB, Sacombank duy trì tốc độ mở rộng mạng lưới và tăng trưởng lợi nhuận bình quân lên tới 70%/năm. Sự phụ thuộc vào thu nhập lãi thuần truyền thống và tỷ lệ nợ xấu tiệm cận chuẩn Basel vẫn là những điểm yếu đòi hỏi ngân hàng phải đẩy nhanh tái cơ cấu.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cao năng lực tài chính và quy mô vốn tự có: Ban lãnh đạo BIDV cần đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa, thực hiện phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) và lựa chọn đối tác chiến lược nước ngoài có năng lực với tỷ lệ nắm giữ từ 20% đến 30% vốn điều lệ. Mục tiêu là nâng quy mô vốn tự có vượt mốc 20.000 tỷ đồng và đưa hệ số CAR theo chuẩn IFRS đạt trên 9% trong giai đoạn 2009-2011.

Thứ hai, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và chuẩn hóa quản lý rủi ro: Khối nhân sự và trung tâm đào tạo BIDV cần tổ chức tái đào tạo nghiệp vụ cho 100% cán bộ tín dụng theo chuẩn quốc tế. Ngân hàng cần hoàn thiện mô hình xếp hạng tín dụng nội bộ tự động theo thông lệ Basel II, kiên quyết kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 3% trong suốt giai đoạn hoạt động tiếp theo.

Thứ ba, đẩy mạnh hiện đại hóa công nghệ thông tin và đa dạng hóa sản phẩm: Khối công nghệ thông tin cần tiếp tục khai thác tối đa hiệu năng của hệ thống ngân hàng tích hợp SIBS (Silverlake Integrated Banking System) và hệ thống phân phối chi nhánh BDS. Đẩy mạnh các dịch vụ ngân hàng hiện đại như BSMS, Internet Banking và thẻ thanh toán quốc tế nhằm nâng tỷ trọng thu dịch vụ ròng lên chiếm 20% đến 25% trong tổng cơ cấu thu nhập vào năm 2010.

Thứ tư, tái cấu trúc theo mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng và quảng bá thương hiệu: Hội đồng quản trị BIDV cần hoàn thiện Đề án thành lập Tập đoàn Tài chính - Ngân hàng với hai trụ cột cốt lõi là Ngân hàng - Bảo hiểm, mở rộng đầu tư sang các lĩnh vực chứng khoán và tài chính vi mô. Song song đó, ngân hàng cần gia tăng độ phủ của hệ thống máy rút tiền tự động ATM và điểm chấp nhận thẻ POS với tốc độ phát triển trên 30%/năm.

Thứ năm, kiến nghị đối với Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước: Cơ quan quản lý cần sớm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thanh tra giám sát an toàn vi mô và vĩ mô, hỗ trợ cơ chế xử lý dứt điểm các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý của các doanh nghiệp nhà nước, đồng thời tạo cơ chế thông thoáng trong việc phê duyệt phương án phát hành cổ phiếu cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhà quản trị và chuyên viên hoạch định chiến lược tại các ngân hàng thương mại: Nắm bắt phương pháp luận đánh giá năng lực cạnh tranh qua 11 chỉ tiêu chuẩn hóa, vận dụng mô hình ma trận hình ảnh cạnh tranh để xác định vị thế và xây dựng chiến lược kinh doanh thích ứng với quá trình hội nhập.

Cán bộ nghiên cứu và hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước: Khảo cứu các dữ liệu thực nghiệm về tác động của lộ trình mở cửa thị trường tài chính WTO, từ đó hoàn thiện các quy định quản lý thận trọng như Quyết định 457 và Quyết định 493.

Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng: Sử dụng chuỗi số liệu tài chính giai đoạn 2001-2007 và hệ thống lý thuyết về lợi thế cạnh tranh của Michael Porter làm nguồn tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu học thuật.

Các nhà đầu tư tổ chức và đối tác chiến lược quốc tế: Phân tích toàn diện bức tranh tài chính với quy mô tổng tài sản hơn 204.000 tỷ đồng của BIDV, từ đó đưa ra các quyết định định giá doanh nghiệp và giải ngân vốn đầu tư chính xác trong quá trình ngân hàng thực hiện cổ phần hóa.

Câu hỏi thường gặp

Chỉ số an toàn vốn CAR của BIDV theo chuẩn VAS và chuẩn IFRS năm 2007 có sự khác biệt như thế nào? Năm 2007, hệ số CAR theo chuẩn kế toán Việt Nam của BIDV đạt 11,6%, vượt quy định tối thiểu 8% của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, theo chuẩn mực quốc tế IFRS, chỉ số này đạt 7,57%. Sự chênh lệch 4,03% này xuất phát từ việc áp dụng phương pháp trích lập dự phòng và đánh giá rủi ro tài sản có khắt khe hơn theo tiêu chuẩn quốc tế.

Nguyên nhân cốt lõi giúp BIDV giảm mạnh tỷ lệ nợ xấu từ 9,1% xuống dưới 4% trong năm 2007 là gì? Tỷ lệ nợ xấu giảm nhanh nhờ ngân hàng chủ động áp dụng sớm phân loại nợ theo Điều 7 Quyết định 493, trích lập đầy đủ 3.400 tỷ đồng quỹ dự phòng rủi ro và thu hồi nợ ngoại bảng đạt 1.870 tỷ đồng (199% kế hoạch). Sự quyết liệt trong xử lý nợ tồn đọng giúp làm lành mạnh hóa bảng cân đối tài chính.

Cam kết mở cửa dịch vụ ngân hàng khi gia nhập WTO tạo ra thách thức lớn nhất nào cho các ngân hàng trong nước? Thách thức lớn nhất là việc cho phép thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài từ tháng 4 năm 2007 và dỡ bỏ trần huy động tiền đồng theo lộ trình 650% đến 1000% vốn pháp định. Các ngân hàng nội địa phải cạnh tranh trực tiếp với các định chế tài chính quốc tế có ưu thế vượt trội về quy mô vốn, công nghệ và trình độ quản trị.

Vốn chủ sở hữu của BIDV đã có sự thay đổi như thế nào trong giai đoạn 2001-2007? Vốn chủ sở hữu của BIDV đã tăng trưởng vượt bậc từ mức 479 tỷ đồng năm 2001 lên mức 7.699 tỷ đồng vào cuối năm 2007, tức tăng hơn 16 lần. Động lực chính đến từ việc Nhà nước cấp bổ sung 3.400 tỷ đồng vốn điều lệ trong năm 2007 kết hợp với nguồn lợi nhuận tích lũy giữ lại qua các năm.

Hệ thống công nghệ thông tin đóng vai trò như thế nào trong việc gia tăng sức cạnh tranh của BIDV? BIDV đã triển khai đồng bộ hệ thống ngân hàng tích hợp SIBS, hệ thống phân phối chi nhánh BDS, dịch vụ tin nhắn BSMS và cổng thanh toán SWIFT. Các giải pháp này tối ưu hóa tốc độ giao dịch trực tuyến, giảm thiểu chi phí vận hành và cung cấp nền tảng quản trị dữ liệu rủi ro đạt chuẩn mực quốc tế.

Kết luận

  • Hệ thống hóa thành công khung lý luận và 11 nhóm tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh ngân hàng thương mại trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
  • Khẳng định bước chuyển mình vượt bậc của BIDV năm 2007 với tổng tài sản đạt 204.000 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 2.000 tỷ đồng và tỷ lệ nợ xấu kiểm soát dưới 4%.
  • Nhận diện thẳng thắn các hạn chế về quy mô vốn chủ sở hữu 7.699 tỷ đồng và mức độ đa dạng hóa sản phẩm phi tín dụng so với các định chế tài chính quốc tế.
  • Khẳng định lộ trình cổ phần hóa và xây dựng tập đoàn tài chính - ngân hàng là giải pháp tất yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện về nâng quy mô vốn tự có trên 20.000 tỷ đồng, hiện đại hóa công nghệ SIBS và chuẩn hóa nhân sự theo tiêu chuẩn Basel.

Đóng góp chính của luận văn là cung cấp khung phân tích thực nghiệm xác thực và hệ thống giải pháp mang tính ứng dụng cao cho tiến trình tái cơ cấu khối ngân hàng thương mại quốc doanh. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2008 đến năm 2015, ngân hàng cần tiếp tục hoàn tất quá trình IPO và triển khai toàn diện các hiệp ước an toàn vốn quốc tế. Các nhà nghiên cứu và giới quản trị ngân hàng hãy cùng tiếp tục đào sâu các mô hình định lượng quản trị rủi ro thanh khoản nhằm xây dựng một hệ thống ngân hàng Việt Nam phát triển bền vững và vững bước hội nhập toàn cầu.