CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm có liên quan 1. Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Cạnh tranh được coi là động lực cho sự phát triển không chỉ của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp mà cả nền kinh tế nói chung.
Cạnh tranh là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau: Theo K. Marx (1844): "Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch ". Theo Michael Porter (1988), cạnh tranh, hiểu theo cấp độ doanh nghiệp, là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, bản chất của cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh.
Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa Marx đã phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân, và qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường. Quy luật này dựa trên những chênh lệch giữa giá cả chi phí sản xuất và khả năng có thể bán hành hoá dưới giá trị của nó nhưng vân thu đựơc lợi nhuận. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập1): Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân,các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất. Từ điển thuật ngữ Kinh tế học (NXB Từ điển Bách khoa Hà Nội 2001): Cạnh tranh là sự đấu tranh giữa các cá nhân, tập đoàn, hay quốc gia.
Cạnh tranh xuất hiện khi hai bên hay giữa các bên cố giành lấy những thứ mà không phải ai cũng có thể giành lấy được. Hai nhà kinh tế học Mỹ P.Nordhaus trong cuốn kinh tế học (xuất bản lần thứ 12) cho rằng cạnh tranh (Competition) là sự kình địch giữa các doanh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường. Hai tác giả này cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo. Ba tác giả Mỹ khác là D.
Dornbusch cũng cho cạnh tranh là cạnh tranh hoàn hảo, các tác giả này viết. Một cạnh tranh hoàn hảo, là ngành trong đó mọi người đều tin rằng hành động của họ không gây ảnh hưởng tới giá cả thị trường, phải có nhiều người bán và nhiều người mua. Qua các khái niệm cho thấy các cách hiểu không giống nhau ở trong nước cũng như ở ngoài nước, có thể rút ra được điểm chung : Cạnh tranh là sự ganh đua giữa những cá nhân, tập thể, đơn vị kinh tế có chức năng như nhau thông qua các hành động, nỗ lực và các biện pháp để giành phần thắng trong cuộc đua, để thoả mãn các mục tiêu của mình. Các mục tiêu này có thể là thị phần, lợi nhuận, hiệu quả, danh tiếng, an toàn,… Tuy nhiên, không phải tất cả các hành vi cạnh tranh đều là lành mạnh, hoàn hảo và nó giúp các chủ thể tham gia đạt được tất cả những gì mình mong muốn.
Giống như bất kỳ sự vật hiện tượng nào khác, cạnh tranh cũng luôn tồn tại hai mặt tích cực và tiêu cực. Ở khía cạnh tích cực, cạnh tranh là nhân tố quan trọng góp phần phân bố các nguồn lực có hạn của xã hội một cách hợp lý trên cơ sở đó giúp nền kinh tế tạo lập một cơ cấu kinh tế hợp lý và hoạt động có hiệu quả… Ở góc độ tiêu cực, nếu cạnh tranh nhằm mục đích chạy theo lợi nhuận mà bất chấp tất cả thì song ứng với lợi nhuận được tạo ra, có thể xảy ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho xã hội. Để có cạnh tranh phải có các điều kiện tiên quyết như: Có nhiều chủ thể cùng nhau tham gia cạnh tranh. Việc cạnh tranh phải được diễn ra trong một môi trường cạnh tranh cụ thể, đó là các ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia cạnh tranh phải tuân thủ; Cạnh tranh có thể diễn ra trong một khoảng thời gian không cố định.
Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Mặc dù hiện nay thuật ngữ “năng lực cạnh tranh” được sử dụng rất rộng rãi nhưng cho đến nay khái niệm năng lực cạnh tranh vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất. Khái niệm năng lực cạnh tranh được đề cập lần đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm 90s. Theo Aldington Report (1985), “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thử khác trong nước và quốc tế. Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp”.
Michael Porter (1988), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm – dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường ”. Năng lực cạnh tranh thể hiện ở việc làm tốt hơn với các công ty so sánh (các đối thủ) về doanh thu, thị phần, khả năng sinh lời và đạt được thông qua các hành vi chiến lược, được định nghĩa như là một tập hợp các hành động tiến hành để tác động tới môi trường nhờ đó làm tăng lợi nhuận công ty, cũng như bằng những công cụ marketing khác. Nó cũng đạt được thông qua việc nâng cao chất lượng sản phẩm mà sự sáng tạo sản phẩm là những khía cạnh rất quan trọng của quá trình cạnh tranh. Nguyễn Bách Khoa (2011), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là tích hợp với các khả năng và các nguồn lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó trong mối quan hệ với đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm tàng trên một thị trường mục tiêu xác định.TS Nguyễn Hoàng Long (2015) Giáo trình Quản trị chiến lược "NLCT là những năng lực mà DN thực hiện đặc biệt tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh.
Đó là những thế mạnh mà các đối thủ cạnh tranh không thể dễ dàng thích ứng và sao chép". Ngoài ra không ít ý kiến đồng nhất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với năng lực kinh doanh. Từ đó có thể đưa ra năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụm thu hút và sử dụng hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững. Năng lực cạnh tranh mang tính tổng hợp, gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành và có thể xác định được cho nhóm doanh nghiệp và từng doanh nghiệp.
Các nội dung nghiên cứu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện năng lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn. Đây là yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp bao gồm: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Nhân lực Nhân lực: Bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp. Nhân lực là lực lượng lao động trực tiếp của doanh nghiệp.
Nhân lực đóng vai trò quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, là tài sản quý giá của doanh nghiệp. Mọi năng lực khác như năng lực tài chính, năng lực sản xuất, năng lực marketing… chỉ có thể được phát huy nếu doanh nghiệp tuyển dụng và đào tạo được đội ngũ lao động có chất lượng. Nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng đối với sự thành công của doanh nghiệp. Kinh doanh là hoạt động của con người, kết quả kinh doanh sẽ phục vụ lại lợi ích của con người.
Vì vậy, con người vừa là công cụ vừa là mục đích của hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc sử dụng nguồn nhân lực như thế nào để có hiệu quả luôn là cơ hội cũng như thách thức cho hoạt động quản trị có hiệu quả. Từ đó doanh nghiệp luôn phải xác định được điểm mạnh điểm yếu của nguồn nhân lực để có những chiến lược kinh doanh phù hợp và hiệu quả tạo ra khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Đánh giá nguồn nhân lực thường qua các tiêu chí như : trình độ lực lượng lao động, số lượng lao động, năng suất công việc, khả năng hiện tại và tương lai của đội ngũ nhân sự.
Như vậy để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thì những người trong doanh nghiệp phải có ý thức và trách nhiệm, nghĩa vụ về công việc của mình. Muốn vậy khâu tuyển dụng đào tạo và đãi ngộ nhân sự là vấn đề quan trọng, nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.2 Tài chính Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh thể hiện ở các chỉ tiêu lợi nhuận là cơ sở để xác định năng lực kinh doanh của doanh nghiệp, tiềm lực tài chính với quy mô, cơ cấu tài sản, nguồn vốn hợp lý với từng ngành hoạt động sản xuất, kinh doanh, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời tốt,. là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện sức mạnh của doanh nghiệp giúp cho doanh nghiệp đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính sẵn có để có thể đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất, mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh khi cần thiết. Phát huy hiệu quả hoạt động tài chính để doanh nghiệp phát huy được năng lực nội tại của mình.
Doanh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.