Chương IL: Thực trạng mức sống dân cư tỉnh Đẳng Nai Chương III: Những định hướng và giải pháp cho mức sống dân cư tỉnh Đẳng Nai Phan kết luận. SVTH : Pao Thị Dung ˆ Trangl0 Khoá luận tốt nghiệ GVHD : PGS. Ts Phạm Xuân Hậu CƯ CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM L.Quan điểm về mức sống Sự khác nhau cơ ban giữa các nên văn minh từ công xã nguyên thủy cho đến tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa chỉnh là phương thức sản xuất, càng về sau trình độ phát triển cảng tién bộ hơn, điều đó có nghĩa lả nền kinh tế xã hội ngày cảng phát triển, các điều kiện song của con người ngày cảng nâng cao, vi dụ thời phong kiến người ta muốn liên lạc với nhau can phải dùng các phương tiện thô so dé như ngựa chim bê cA, đốt lửa v. nhưng ngay nay bạn muốn liên lạc với ai chỉ cần nhắc chiếc điện thoại hay mở mạng internet, chỉ vài giây sau bạn có thé nói chuyện trực tiếp với họ.
Nhu vậy rõ rang xã hội phat triển đã giúp con người ngày cảng được sống thỏai mái hơn tiện nghi hơn, điều đó cũng có nghĩa là mức sống của họ được nâng cao hơn. Vậy mức sống lả gì va tại sao phải nghiên cứu đánh giá nó?. Mức sống lả một khái niệm thuộc phạm trủ kinh tế xã hội phản ánh khả năng nội dung quỹ tiêu dùng cá nhân. Hiện nay mức sống được hiểu chung là “ Tổng giá trị hàng hóa va các dịch vụ sinh họat ma cơ cau sản xuất ra tư liệu tiêu dùng nhất định vả mỗi quan hệ tỷ giá nhất định giữa các tư liệu đó có khả năng thỏa mãn nhu câu vật chất, văn hoa của người dan tại một thời điểm phát triển kinh tế xã hội của dat nước” (Báo cáo Liên Hiệp Quốc về phát triển con người).
Mọi hoạt động kinh tế xã hội cuỗi củng cũng nhằm vao việc phục vụ cho con người, hay nói cách khác là nẵng cao mức song cho con người. Có thể nói mức song phan nao đánh giá được trình độ phát triển kinh te xã hội của các quốc gia và giữa những vùng khác nhau trong một quốc gia. Trước đây khi đánh gid mức sống người ta quan niệm rang, dat nước có nên kinh tế phát triển tức là dan cư có mức sống cao, tuy nhiên hiện nay người _——————————— ———ễ—- 7T SVTH: Bàu Thị Dung Trang! ta không con có quan niệm như trên nữa, khi đánh giá mức sống cần phai đánh giá trên nhiều lĩnh vực, bằng nhiều tiêu chi khác nhau như: thu nhập bình quân đầu người, lương thực dinh dương, y tế, tudi thọ. Thật vậy, con người muốn song tốt song khỏe, không chỉ có tiên là đủ mà họ can được đáp img day đủ vẻ các mặt ăn uỗng, ngủ, giải trí, do đó nêu chỉ xét sự phát triển kinh tế xã hội dé đánh giá mức sống thôi thì chưa đủ.
Hội đồng phát triển hải ngoại (ODC) đã đưa ra khái niệm “ chỉ số chất lượng vật chat cuộc sống” (PQLI: Physical Quality of Life Index) dé cập vào 3 điểm có tính phd biển về nhu cầu cơ bản của con người: “ tuổi thọ dự báo khi một tudi, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh, tỷ lệ xóa mủ chữ. Theo những chỉ số nay các nước giàu không phải luôn luôn có chất lượng cuộc sống cao nhất. Ngoai ra Liên Hợp Quốc cũng đưa ra chỉ tiêu để đánh giá mức sống của con người bao gồm cả thu nhập quốc dân đầu người, thành tựu y tế xã hội và trình độ văn hóa, giáo dục. Tong hợp lại là chỉ số phát triển con người ( viết tắt la HDI: Human Development Index).
Giá trị của HDI sẽ từ 0.00 đến 1, nước nảo có HDI lớn chứng tỏ nước đó có sự phát triển con người cao hon. Chỉ tiêu HDI sẽ thé hiện toan diện và day đủ hơn về sự phát triển, trinh độ van minh của một quốc gia, trên cơ sở đó cho phép nhìn nhận nước giàu, nghẻo tương đổi chỉnh xác va khách quan hơn. Ngoài ra tiêu chí như thu nhập bình quân đầu người theo sức mua tương đương (viết tắt là PPP: Purchasing Power Parity) để có thể đánh giá mức sông chính xác hon. Các chỉ tiêu đánh gia mức sống.
Trong phạm vi của luận văn, dé tìm hiểu vẻ mức sông dân cư tôi đánh giá các tiêu chí sau: thu nhập bình quân đầu người, lương thực đỉnh dưỡng, y tế - chăm sóc sức khỏe, giao dục, nha ở, điện nước., văn hóa va mỗi trường sông. Thu nhập và thu nhập bình quan đầu người. Tông sản phẩm quốc dân (Gross National Product viết tắt là GNP Ia tiêu chuẩn được nêu ra trước tiên dé so sánh, đánh giá quy mô, trình độ phát triển 'f==—————————~^“—=——=——=————————ễễễễ—-—~---—- SVTH: Bao Thị Dung Trangl2 Khoá luận tốt nghiệp GVHD : PGS. Ts Pham Xuân Hậu fT kinh tế va mức sống giữa các nước với nhau.
GNP là tong giá trị tòan bộ các sản phẩm cuỗi cling va các họat động dịch vụ được tạo ra hang năm của mỗi nước, không tính các sảm phẩm trung gian và các phân giá trị phải chỉ trả cho người nước ngoài. Nhưng lại bao gồm cả phan giá trị được tạo ra ở nước ngoải ma thuộc quyên sở hữu của người trong nước. Tổng sản phẩm trong nước (Gross Domestic Product, viết tắt là GDP) là chỉ tiêu so sánh cũng thường được dùng với GNP hoặc thay thé cho GNP. Tổng sản phẩm trong nước(GDP) cũng giéng như tổng sản phẩm quốc dân (GNP) chi khác ở chỗ GDP không bao gồm những phản giá trị của người trong nước tạo ra ở nước ngoài , nhưng lại bao gồm cả phần giá trị của người nước ngoài tạo ra trong lãnh thé quốc gia.
Các nước trên thé giới thường rơi vào một trong hai trường hợp : GDP lớn hơn GNP, hoặc GNP nhỏ hơn GDP. Những nước có GDP nhỏ hơn GNP thường lả những nước có nên kinh tế mạnh, có nhẻu người ra nước ngoài làm thuê , khoản tiền gửi về khá lớn trong khi các khoản tiễn phải trả cho người nước ngoài nhỏ. Những nước này thâm nhập sâu vào nên kinh tế thé giới, dau tư vào nhiều quốc gia. Những nước có nen kinh tế phat triển như Mỹ, Nhật, các nước Tây Âu.Ngược lại, những nước có GDP lon hơn GNP thường là những nước có nên kinh tế kém phát triển hay đang phát triển, chấp nhận thu hút vốn đầu tư của nước ngoài và hằng năm phải để cho các nhà đầu tư nước ngoài lấy đi những phan giá trị đáng kể được tạo ra trên lãnh thé, bù lại giá trị đầu tư đem lại một nguồn thu lớn tính vào GDP.
Tuy nhiên hai chỉ số trên chỉ có giá trị so sánh khi tính đến cùng một quy mô dân số. với hai giá trị GNP (hoặc GDP) như nhau, một nước có dẫn số lớn chắc chin sẻ không phát triển bằng một nước có dân số it hơn. Vì vậy GNP và GDP ở các nước, các khu vực rất khác nhau trên thé giới. để đánh giá chính xác sự phat triển của một quốc gia va qua dé có thể thay được mức chênh lệch giàu nghẻo vẻ đời song vật chất giữa các quốc gia thì người ta dùng GNP hay GDP/ngudi.
SVTH : Đào Thị Dung Trangl3 Khoá luận tốt nghiện GVHD : PGS. Ts Phạm Xuân Hậu Hägamãx>>>>=—————_ đ đ đ đ J JỷJỷJỷJỷJjỷjỷỏÄìỷỏỷẰìỏẰễỏễỏễỏỷ /_/_/7"7ẴẰẵÖÖễL "nÃ]:::: Như đã biết, GDP bình quân đầu người là một chỉ tiêu khái quát, như một phạm tri kinh tế học phản ánh tình độ phát triển kinh tế xã hội của một nước trong một năm nảo đó. Nó được xác định bằng tổng số sản phẩm của một quốc gia làm ra trong một năm chia cho tong số dân của quốc gia đó, do vậy no đồng thời trực tiếp biểu thị chất lượng dan số, mức sống dân cư. Nếu chỉ số này hằng năm tăng phan trăm thì có nghĩa mức sông tăng, còn ngược lại thi mức sông giảm.
Dựa vào GDP/người năm 1990, ngân hàng Thể giới (WB) phân các nước thành 6 loại khác nhau: Loại GDP/người Rất giàu > 25000 USD Giàu Từ 20000 — 25000USD Khá Từ 10000 — 20000USD Trung bình Từ 2500 — 10000USD Nghèo Từ 500 - 2500USD Rất nghèo <500USD GDP/người không phải là con số để ta suy ra thu nhập của từng cá nhân mà chỉ đơn giản là cách tính cho thấy mức độ chia sẻ có thể cho từng cá nhân trong tòan bộ thu nhập quốc dân. Do đó cách tính GDP/người bộ lộ những sai lệch khá rõ khi mức sống thực tế các nước với nhau, nhất là đối với những nước có nền kinh tế nông nghiệp tự cấp tự tic. Hơn nữa việc quy đổi các giá trị đola Mỹ theo tỷ giá hối đoái không phản ánh chính xác được sức mua của các nước do mỗi nước có thực tế sinh hoạt giá cả khác nhau. Sự phân hóa GDP và GDP/người giữa các vùng trong nước cũng khác nhau.
Chính sự chénh lệch về thu nhập dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội, Đặc biệt khu vực nông thôn và thành thị có mức chênh lệch rất lớn. Ngân hang thế giới cho rằng chỉ tiêu thu nhập trên dau người hằng năm bằng 370USD là ngưỡng đánh giá sự nghèo khổ. Tuy nhiên trên thế giới chỉ a SYTH : Bao Thị Dung Trangl4 Khoá luận tốt nghi GVHD : PGS. Ts Phạm Xuân Hậu ở Bangladet là | IUSD/người/tháng.GDP/người hay theo sức mua tương đương (PPP) Đầu thập kỷ 90, chương trình phát triển Liên Hợp Quốc đưa ra cách tính GDP của mỗi nước theo sức mua tương đương PPP có nghĩa là tính tới giá cả sinh hoat của từng nứợc.
Phương pháp này được thừa nhận rộng rãi để làm cơ sở xem xét mức sống của các quốc gia, hợp lý hơn là lấy GDP/người chuyển qua ngoại tệ mạnh (chủ yếu là USD). Cách tính đó có thể tóm gọn hơn là: trước hết tìm tỷ số sức mua tương đương các loại nhu yếu phẩm và dịch vụ thiết yếu của 1USD tại quốc gia đang xét so với IUSD ngay tại Mỹ. Thí dụ IUSD tại Turkmenistan vào năm 1998 có sức mua 10 lin tại Mỹ. Sau đó nhân với GDP/người với tỷ số này ta sẽ có GDP trên người theo PPP, đơn vị tính déla quốc tế là ngầm ý 1USD quốc tế có sức mua tương đương với IUSD tại Mỹ.
Hai cách tinh thu nhập của Ngân hang thế giới và của Liên Hiệp Quốc cho những nhận định khác nhau về mức sống nếu chuyển đổi qua USD theo tỷ giá hối đoái của từng nước thì GDP/ngưỡời của Úc và Anh chỉ gan bằng 50% của Thuy Sĩ. Nhưng nếu tính bằng phương pháp PPP thi thấy mức sống của Anh và Úc hơn Thụy Sĩ tới 76%. Rõ rằng chúng ta thấy có sự chênh lệch lớn giữa hai cách tính.