Chương 1. Cơ sở lý thuyết về lợi thế cạnh tranh, năng lực động và dịch vụ văn phòng chia sẻ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 5 Chương 2. Xác định lợi thế cạnh tranh đối với dịch vụ văn phòng chia sẻ và khám phá thực trạng năng lực động của SPT.
Giải pháp ứng dụng năng lực động trong việc nâng cao lợi thế cạnh tranh đối với dịch vụ văn phòng chia sẻ của SPT. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 6 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LỢI THẾ CẠNH TRANH, NĂNG LỰC ĐỘNG VÀ DỊCH VỤ VĂN PHÒNG CHIA SẺ 1. Khái quát về lợi thế cạnh tranh 1.
Khái niệm về cạnh tranh Thuật ngữ “Cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, thể thao; thường xuyên được nhắc tới trong sách báo chuyên môn, diễn đàn kinh tế cũng như các phương tiện thông tin đại chúng và được sự quan tâm của nhiều đối tượng, từ nhiều góc độ khác nhau, dẫn đến có rất nhiều khái niệm khác nhau về “cạnh tranh”, cụ thể như sau: - Tiếp cận ở góc độ đơn giản, mang tính tổng quát thì cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác. - Trong kinh tế chính trị học thì cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những người sản xuất với người tiêu dùng (người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua rẻ); giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn; giữa những người sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ. Theo Michael Porter [8] thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần.
Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà DN đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 7 quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. Như vậy, cạnh tranh là một sự tranh đấu mà trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp để đạt được mục tiêu kinh tế chủ yếu của mình như: chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng, đảm bảo tiêu thụ hiệu quả, nâng cao vị thế của mình. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích.
Khái niệm về lợi thế cạnh tranh. Những lợi thế được DN tạo ra và sử dụng cho cạnh tranh được gọi là lợi thế cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh còn được hiểu như là các đặc điểm hay biến số của sản phẩm hoặc nhãn hiệu, mà nhờ chúng DN tạo ra một số tính trội hơn, ưu việt hơn so với đối thủ cạnh tranh trực tiếp[6].Porter [7], lợi thế cạnh tranh xuất phát chủ yếu từ giá trị mà DN có thể tạo ra cho khách hàng. Lợi thế đó có thể ở dưới dạng giá cả thấp hơn đối thủ cạnh tranh (trong khi lợi ích cho người mua là tương đương), hoặc cung cấp những lợi ích vượt trội so với đối thủ khiến người mua chấp nhận thanh toán một mức giá cao hơn.
Khi một DN có được lợi thế cạnh tranh, DN đó sẽ có cái mà các đối thủ khác không có, nghĩa là DN hoạt động tốt hơn đối thủ, hoặc làm được những việc mà các đối thủ khác không thể làm được. Lợi thế cạnh tranh là nhân tố cần thiết cho sự thành công và tồn tại lâu dài của doanh nghiệp. Do vậy mà các DN đều muốn cố gắng phát triển lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên điều này thường rất dễ bị xói mòn bới những hành động bắt chước của đối thủ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 8 DN chỉ tập trung vào hai mục tiêu tăng trưởng và đa dạng hóa sản phẩm, chiến lược đó không đảm bảo sự thành công lâu dài cho doanh nghiệp.
Điều quan trọng đối với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào là xây dựng cho mình một lợi thế cạnh tranh bền vững. Theo Michael Porter lợi thế cạnh tranh bền vững có nghĩa là DN phải liên tục cung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp được[7]. Ngày nay, quá trình cạnh tranh đang có khuynh hướng chuyển mục đích của cạnh tranh từ phía cạnh tranh người tiêu dùng sang cạnh tranh đối thủ. Cốt lõi của cạnh tranh hiện nay được quan niệm là tạo ưu thế của DN so với đối thủ cạnh tranh.
Thích ứng với cạnh tranh đòi hỏi phải có sự sáng tạo và khai thác lợi thế cạnh tranh. DN có thể sáng tạo ra lợi thế cạnh tranh theo các cách khác nhau: hoặc là chọn tuyến thị trường khác với đối thủ cạnh tranh, hoặc là đầu tư giảm giá thành để cạnh tranh trong cùng một tuyến thị trường, hoặc kiểm soát hệ thống phân phối. Đằng sau các cách này là hai thái độ cạnh tranh: - Đối đầu trực tiếp với đối phương. - Phát triển con đường tránh cạnh tranh (chiến thắng mà không cần chiến đấu) [11].
Các công cụ hỗ trợ phân tích lợi thế cạnh tranh: 1. Phân tích SWOT [2]. SWOT, viết tắt của Strengths (Điểm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội) and Threats (Đe dọa), là một công cụ dùng để phân tích các yếu tố chính ảnh hưởng lên vị thế của một DN trên thị trường trước khi phát triển một chiến lược. Có hai loại yếu tố chính, đó là: yếu tố bên trong (Strengths và Weaknesses), và yếu tố bên ngoài (Opportunities và Threats).
Bên cạnh đó, Strengths và Opportunities là các yếu tố hữu dụng cho DN đạt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 9 được mục tiêu của mình; còn Weaknesses và Threates là các yếu tố tác động xấu. Một DN phải biết được những gì mình có và những gì mình còn thiếu, cùng với nắm bắt được những gì đang diễn ra trên thị trường ảnh hưởng đến DN là chìa khóa của thành công. SWOT là một công cụ hiệu quả của các nhà quản lý để tối thiểu hóa rủi ro thất bại. Bởi vì, con người không hoạch định để thất bại mà thất bại khi hoạch định.
Có nhiều mô hình để trình bày phân tích SWOT nhưng mô hình ma trận là mô hình phổ biến nhất. Tác động tích cực Tác động xấu cho để đạt mục tiêu việc đạt mục tiêu (Đặc tính của tổ chức) Nguồn gốc bên trong Strengths Weaknesses (Điểm mạnh) (Điểm yếu) Nguồn gốc bên ngoài (Đặc tính của môi Opportunities Threats trường) (Cơ hội) (Nguy họa) Hình 1. Công cụ phân tích SWOT LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter [8] Hình 1.
Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của M.Porter Áp lực cạnh tranh của nhà cung cấp Số lượng và quy mô nhà cung cấp: số lượng nhà cung cấp sẽ quyết định đến áp lực cạnh tranh, quyền lực đàm phán của họ đối với ngành, doanh nghiệp. Khả năng thay thế sản phẩm của nhà cung cấp: là khả năng thay thế những nguyên liệu đầu vào của các nhà cung cấp và chi phí chuyển đổi nhà cung cấp. Thông tin về nhà cung cấp: có ảnh hưởng lớn tới việc lựa chọn nhà cung cấp đầu vào cho doanh nghiệp. Với tất cả các ngành, nhà cung cấp luôn gây áp lực nhất định nếu họ có quy mô, sự tập hợp và việc sở hữu các nguồn lực quý hiếm.
Chính vì thế, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 11 những nhà cung cấp các sản phẩm đầu vào nhỏ lẻ (nông dân, thợ thủ công …) sẽ có rất ít quyền lực đàm phán đối với DN mặt dù họ có số lượng sản phẩm lớn nhưng họ lại thiếu tổ chức. Áp lực cạnh tranh từ khách hàng Khách hàng là một áp lực cạnh tranh có thể ảnh hưởng trực tiếp tới toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành. Khách hàng được chia làm 2 nhóm: Khách hàng lẻ và Nhà phân phối Cả hai nhóm đều gây áp lực với DN về giá cả, chất lượng sản phẩm, dịch vụ đi kèm và chính họ là người điều khiển cạnh tranh trong ngành thông qua quyết định mua hàng. Áp lực cạnh tranh từ đối thủ tiềm ẩn Theo M-Porter, đối thủ tiềm ẩn là các DN hiện chưa có mặt trong ngành nhưng có thể ảnh hưởng tới ngành trong tương lai.
Đối thủ tiềm ẩn nhiều hay ít, áp lực của họ tới ngành mạnh hay yếu sẽ phụ thuộc vào các yếu tố sau: - Sức hấp dẫn của ngành: yếu tố này được thể hiện qua các chỉ tiêu như tỷ suất sinh lợi, số lượng khách hàng, số lượng DN trong ngành. - Những rào cản gia nhập ngành: là những yếu tố làm cho việc gia nhập vào một ngành khó khăn và tốn kém hơn. Áp lực cạnh tranh từ sản phẩm thay thế Sản phẩm và dịch vụ thay thế là những sản phẩm, dịch vụ có thể thỏa mãn nhu cầu tương đương với các sản phẩm dịch vụ trong ngành. Áp lực cạnh tranh chủ yếu của sản phẩm thay thế là khả năng đáp ứng nhu cầu so với các sản phẩm trong ngành, thêm vào nữa là các nhân tố về giá, chất lượng, các yếu tố khác của môi trường như văn hóa, chính trị, công nghệ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 12 cũng sẽ ảnh hưởng tới sự đe dọa của sản phẩm thay thế.
Áp lực cạnh tranh trong nội bộ ngành Các DN đang kinh doanh trong ngành sẽ cạnh tranh trực tiếp với nhau tạo ra sức ép trở lại lên ngành tạo nên một cường độ cạnh tranh. Trong một ngành các yếu tố sau sẽ làm gia tăng sức ép cạnh tranh trên các đối thủ: - Tình trạng ngành: nhu cầu, tốc độ tăng trưởng, số lượng đối thủ cạnh tranh. - Cấu trúc ngành: ngành tập trung hay phân tán. - Các rào cản rút lui: giống như các rào cản gia nhập ngành, các rào cản rút lui là các yếu tố khiến cho việc rút lui khỏi ngành của DN trở nên khó khăn.
Lý thuyết về năng lực động của doanh nghiệp. Khái niệm về năng lực động[9] Lý thuyết cạnh tranh thường dựa trên tiền đề là các DN trong cùng một ngành có tính đồng nhất cao về mặt nguồn lực và chiến lược kinh doanh họ sử dụng.