Chương I. Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương II. Xây dựng hệ thống các câu hỏi tự luận chương II, III sinh học 10 ban cơ bản. Chương III.
Xây dựng hệ thống MCQ chương II, III sinh học 10 ban cơ bản. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Yêu cầu đổi mới của phương pháp dạy học Theo tác giả Đặng Xuân Hải [11] quá trình dạy học là một hệ thống toàn vẹn và có thể minh hoạ bằng sơ đồ sau: Nội dung dạy học Dạy Học Truyền đạt Lĩnh hội Cộng tác Điều khiển Tự điều khiển Hình 1.1 Quá trình dạy học Theo sơ đồ trên thì dạy và học là hai mặt của một quá trình, luôn tác động qua lại, bổ sung cho nhau, quy định lẫn nhau, thâm nhập vào nhau thông qua HĐ cộng tác nhằm tạo cho người học khả năng phát triển trí tuệ, góp z phần hoàn thiện nhân cách.
Dạy là sự điều khiển tối ưu hoá quá trình người học chiếm lĩnh nội dung học, trong và bằng cách đó phát triển và hình thành nhân cách (năng lực và phẩm chất). Học là quá trình tự giác, tích cực tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học (nội dung học) dưới sự điều khiển sư phạm của GV. Trong quá trình dạy học, nội dung dạy học lại nằm trong mối liên hệ hữu cơ với các thành phần cơ bản của quá trình dạy học: Mục đích-Nội dung- Phương pháp. Vì vậy, muốn đổi mới PPDH ta cần xét trên quan điểm hệ thống, coi PPDH là một thành tố của quá trình dạy học.
Nghiên cứu đặc điểm tâm lý của lứa tuổi HS THPT trong tài liệu Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm [19] chúng tôi nhận thấy: HS THPT đang ở giai đoạn đầu của tuổi thanh niên. Cùng với sự trưởng thành về mặt thể lực, các HĐ của thanh niên càng phong phú và phức tạp, chúng không chỉ mở rộng về số lượng và phạm vi mà còn biến đổi cả về chất lượng. Trong học tập, nội dung và tính chất của các HĐ của thanh niên HS khác rất nhiều so với HĐ của thiếu niên. “Sự khác nhau cơ bản không phải chỉ ở chỗ nội dung học tập ngày một sâu hơn, mà là ở chỗ HĐ học tập của thanh niên HS đòi hỏi tính năng động và tính độc lập ở mức độ cao hơn nhiều” [19].
Do đó HS khó chấp nhận cách dạy học thụ động, nhồi nhét kiến thức.1 sau phản ánh sở thích của HS với các phương pháp dạy học.1: Nghiên cứu về sở thích của HS từ 11 đến 18 tuổi đối với các PPDH (M. Hebditch, 1990) [25] St Thích Bình thường Không thích PPDH t (%) (%) (%) 1 Thảo luận theo nhóm 80 16 4 2 Thiết kế 63 33 4 3 Thử nghiệm 61 28 11 4 Học trong phòng thí nghiệm 50 39 11 z 5 Nghiên cứu tại thư viện 50 26 24 6 Sơ đồ, bảng biểu 46 39 15 7 Thực tập 43 37 20 8 Làm việc độc lập 41 33 26 9 Phát minh 39 41 20 10 Quan sát 30 57 13 11 Lí thuyết 15 46 39 12 Diễn giảng 11 19 70 Quan sát bảng số liệu trên chúng ta nhận thấy, mức độ hứng thú của HS vào bài học tỉ lệ thuận với mức độ HS được tham gia vào bài học, hay nói cách khác là mức độ chủ động của HS. Như vậy để nâng cao chất lượng dạy và học cần chú ý đến sự chủ động, tích cực của HS. Cụ thể: - Dạy học tiến hành thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập cho HS.
- Dạy học kết hợp giữa học tập cá thể với học tập hợp tác; giữa hình thức học cá nhân với hình thức học theo nhóm, theo lớp. - Dạy học thể hiện mối quan hệ tích cực giữa GV và HS, giữa HS với HS. - Dạy học chú trọng rèn luyện các kỹ năng, năng lực, tăng cường thực hành và gắn nội dung bài học với thực tiễn cuộc sống. - Dạy học chú trọng đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, năng lực tự học, tự nghiên cứu; tạo niềm vui, hứng thú, nhu cầu hành động và thái độ tự tin trong học tập cho HS.
- Dạy học chú trọng đến việc sử dụng có hiệu quả phương tiện, thiết bị dạy học được trang bị hoặc do các GV tự làm, đặc biệt lưu ý đến những ứng dụng của công nghệ thông tin. z - Dạy học chú trọng đến việc đa dạng hoá nội dung, các hình thức tổ chức, các cách thức đánh giá và tăng cường hiệu quả việc đánh giá. Xu hướng đổi mới và hoàn thiện kiểm tra - đánh giá 1. Một số khái niệm cơ bản về kiểm tra - đánh giá Kiểm tra - Trong giáo dục, KT là quá trình tác động của người KT làm cho người được KT tự bộc lộ khả năng của mình về tình hình lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, giúp người học thu được những thông tin phản hồi để điều chỉnh cách học, giúp người dạy biết tình hình thực tế để điều chỉnh cách dạy.
Có thể KT để ĐG hay KT không ĐG. Đánh giá ĐG là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của của công việc, dựa vào những phân tích thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp, để cải thiện tình hình thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc. [28] Đánh giá là một quá trình: đánh giá từng nội dung, từng bài học, từng hoạt động giáo dục, từng môn học và đánh giá toàn diện theo mục tiêu giáo dục. Đánh giá không chỉ ở thời điểm cuối cùng của mỗi giai đoạn giáo dục mà trong cả quá trình.
Đánh giá ở những thời điểm cuối mỗi giai đoạn sẽ trở thành khởi điểm của một giai đoạn giáo dục tiếp theo với yêu cầu cao hơn. Đánh giá thường xuyên và định kỳ sẽ bám sát mục tiêu của từng bài, từng chương và mục tiêu giáo dục của môn học ở từng lớp, từng cấp học. Vai trò của kiểm tra, đánh giá. Kiểm tra, đánh giá là một khâu có vai trò, chức năng rất quan trọng và không thể thiếu được trong giáo dục.
Có thể coi kiểm tra đánh giá là công cụ chủ yếu điều chỉnh hoạt động dạy và học của thày và trò, là động lực để đổi z mới phương pháp, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục. Đánh giá với hai chức năng cơ bản là xác nhận và điều khiển. Xác nhận đòi hỏi độ tin cậy, điều khiển đòi hỏi tính hiệu lực. Thực hiện tốt đồng thời cả hai chức năng trên sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS sẽ giúp GV thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của HS để điều chỉnh HS học tập ngày một tiến bộ hơn. Đánh giá chính xác, khách quan, công bằng, kịp thời và không bỏ sót sẽ có tác dụng giáo dục và động viên HS, giúp HS sửa chữa thiếu sót kịp thời. Kiểm tra đánh giá với nhiều hình thức đa dạng và độ phân hoá cao sẽ giúp ta đánh giá được cả quá trình lĩnh hội tri thức của HS. Tăng cường các phương thức đánh giá trong giờ, ngoài giờ, qua quan sát, trao đổi- thảo luận, qua tự học không chỉ nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động của học trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của GV.
Trước đây GV giữ độc quyền đánh giá HS. Trong phương pháp tích cực, GV phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường cần phải trang bị cho HS. Các hình thức kiểm tra, đánh giá.
Kiểm tra đánh giá thường có 3 hình thức: quan sát, vấn đáp và viết. Trong đó hình thức kiểm tra viết được quan tâm nhiều hơn do khả năng ứng dụng rộng rãi của nó. Có nhiều hình thức kiểm tra viết, trong đó chia thành 2 nhóm lớn đó là trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan. Chúng tôi có thể tóm tắt theo sơ đồ sau: Trắc nghiệm z Trắc nghiệm tự luận Trắc nghiệm khách quan Diễn giải Tiểu luận Luận văn Đúng- Sai MCQ Ghép nối Điềnkhuyết Mỗi hình thức có những ưu, nhược điểm nhất định.
Trắc nghiệm tự luận: là dạng trắc nghiệm dùng những câu hỏi mở đòi hỏi HS phải xây dựng câu trả lời. Có nhiều dạng trắc nghiệm tự luận như: tiểu luận; dạng cung cấp thông tin như: điền vào chỗ trống, sửa lỗi sai, giải thích, trả lời câu hỏi. Dạng này có nhiều ưu điểm: - Kiểm tra được chiều sâu kiến thức, kỹ năng, hành vi, thái độ, rèn luyện khả năng diễn đạt, tư duy sáng tạo và phát triển suy luận logic. - HS có điều kiện bộc lộ khả năng sáng tạo và GV có thể đánh giá được tư duy sáng tạo của HS.
- Thu được tín hiệu ngược từ phía HS từ đó có thể điều chỉnh cách dạy phù hợp. Tuy nhiên còn tồn tại nhược điểm: - Bài kiểm tra trong thực tế dễ sa vào đo những kiến thức của HS ở mức độ nhớ trong SGK, tài liệu, chưa chú trọng đến giải quyết các vấn đề đòi hỏi vận dụng kiến thức. - Bài kiểm tra không kiểm tra được nhiều kiến thức mà các em đã được học trong nhà trường do số lượng các câu hỏi mỗi lần kiểm tra ít, số lần kiểm tra không nhiều, không thường xuyên. Càng ít câu hỏi thì càng chú ý đến kiểm tra các vấn đề trọng tâm, phổ kiến thức không rộng, dễ dẫn tới tình trạng học tủ, học lệch.
z - Đánh giá thường chỉ dựa trên điểm số của HS mà ít chú ý đến mặt định tính tức là kỹ năng tư duy, năng lực và hành vi hoạt động nhận thức của HS. - Chấm điểm khó thống nhất, thiếu khách quan, các GV khác nhau chấm điểm khác nhau trên cùng một bài làm. - Thông tin phản hồi của GV chưa kịp thời, thường xuyên chưa cụ thể, chưa chính xác. Thông tin phản hồi càng chậm, HS quên bài kiểm tra của mình càng nhiều thì hiệu quả càng giảm.
Hình thức trắc nghiệm tự luận được sử dụng khi: - Nhóm HS được khảo sát không quá đông và đề thi chỉ được sử dụng một lần. - Khuyến khích và khen thưởng sự phát triển kỹ năng diễn đạt bằng văn viết. - Kiểm tra, tổng hợp một về vấn đề nào.