Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng kiểm soát thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp do Chi cục Thuế khu vực Thị xã Bỉm Sơn - Hà Trung quản lý. Chương 3: Giải pháp tăng cường công tác kiểm soát thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp do Chi cục Thuế khu vực Thị xã Bỉm Sơn - Hà Trung quản lý. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TẮNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1.
Tổng quan về thuế GTGT 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế GTGT a. Khái niệm, đặc điểm và phân loại thuế Thuế là phạm trù có tính lịch sử và là một tất yếu khách quan, xuất phát từ nhu cầu đáp ứng các chức năng vốn có của Nhà nước. Mỗi nhà nước mang bản chất giai cấp nhất định nên thuế mang bản chất giai cấp của nhà nước sinh ra nó.
Thuế là một hình thức động viên bắt buộc của Nhà nước đối với mọi công dân nhằm tập trung một phần thu nhập của các thể nhân và pháp nhân vào NSNN. Có thể coi thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chức hoặc cá nhân phải nộp cho nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định. 10] Với nhận thức như vậy, có thể nhìn nhận thuế với các hình thức phân phối khác ở những đặc điểm chủ yếu sau đây: Thứ nhất: Thuế là một biện pháp tài chính của Nhà nước mang tính quyền lực, tính cưỡng chế, tính pháp lý cao. Điều này đã được thể chế hoá trong hiến pháp của mọi quốc gia.
Việc đóng thuế cho nhà nước được coi là một trong những nghĩa vụ bắt buộc đối với công dân. Thứ hai: Tuy là biện pháp tài chính của nhà nước mang tính bắt buộc, song sự bắt buộc đó luôn luôn được xác lập trên nền tảng của các vấn đề kinh tế và xã hội của người làm nghĩa vụ đóng thuế. Do đó, thuế bao giờ cũng chứa đựng các yếu tố kinh tế và xã hội. Thứ ba: Thuế là một khoản đóng góp không mang tính chất hoàn trả trực tiếp.
Nghĩa là khoản đóng góp của công dân bằng hình thức thuế không đòi hỏi phải hoàn trả đúng bằng khoản thu mà nhà nước thu từ công dân đó, như là khoản vay, mượn. Nó sẽ hoàn trả lại cho doanh nghiệp thông qua cơ 5 chế đầu tư của NSNN cho việc sản xuất và cung cấp hàng hoá công cộng. Một sắc thuế bao giờ cũng được cấu thành bởi các yếu tố cơ bản như: tên gọi, đối tượng chịu thuế, doanh nghiệp, thuế suất, chế độ miễn giảm, các quy định về thủ tục nộp thuế và tổ chức thực hiện. Căn cứ vào việc xem xét tính chất, tác dụng của các sắc thuế vào quá trình phát triển kinh tế xã hội, người ta phân thuế thành hai loại: + Thuế trực thu: Là sắc thuế thể hiện tính chất đồng nhất giữa doanh nghiệp theo luật và người chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế, tức là doanh nghiệp và người chịu thuế là một.
Ở những sắc thuế thuộc loại này không có khả năng chuyển giao gánh nặng thuế cho các đối tượng khác chịu tại thời điểm đánh thuế. Thuộc lọai thuế này bao gồm các sắc thuế thu nhập cá nhân, thuế TNDN. + Thuế gián thu: Là các sắc thuế mà doanh nghiệp theo luật có tính chất danh nghĩa, chỉ là người nộp thay cho người tiêu dùng những hàng hoá, dịch vụ hoặc tài sản do mình cung cấp. Các sắc thuế thuộc loại thuế gián thu là thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu.
Thuế gián thu phụ thuộc chủ yếu vào quy mô tiêu dùng, tiêu dùng xã hội càng lớn thì thuế gián thu thu được càng nhiều. Nền kinh tế tăng trưởng và phát triển, mức thu nhập bình quân đầu người tăng lên chính là yếu tố ảnh hưởng đến quy mô tiêu dùng xã hội: mở rộng hoạt động ngoại thương, cho phép tự do xuất, nhập khẩu hàng hóa cũng là nhằm mục tiêu động viên được nguồn thu lớn và ổn định về cho NSNN. 23] Mỗi loại thuế trên đều có những ưu và nhược điểm riêng. Tùy theo đặc điểm, tình hình kinh tế, xã hội,.
của mỗi quốc gia mà tại đó ban hành một hệ thống chính sách thuế cụ thể phù hợp, nhằm mục đích chính là phải sử dụng hợp lý và có hiệu quả cao công cụ thuế để đáp ứng nhu cầu chi của NSNN và góp phần thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội mà mỗi quốc gia đề ra. Khái niệm thuế GTGT - Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu. Năm 1918 người đầu tiên nghĩ ra thuế này là một người Đức tên là Carl Friedrich Von Siemens. 27-28] Ông là nhân viên kế toán của công ty SIEMENS A.G, một công ty sản xuất hàng điện tử của nước Đức, vào khoảng thời gian thế chiến thứ nhất.
- Nước đầu tiên trên thế giới áp dụng thuế GTGT là Pháp, bắt đầu từ 01/07/1954 và đến 01/01/1968 đưa vào áp dụng chính thức. [14] Pháp đã chính thức áp dụng rộng rãi cho tất cả các ngành nghề, cùng năm này Đức cũng đã chính thức áp dụng thuế GTGT trên toàn nước Đức. - Năm 1995: Việt Nam áp dụng thí điểm thuế GTGT. [14] Luật thuế GTGT chính thức được Quốc Hội thông qua ngày 10/05/1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999.
Khi ra đời, luật thuế GTGT đã khắc phục được những nhược điểm trước kia của thuế doanh thu như: tránh việc trùng lặp thuế, thực hiện quản lý dễ dàng và đơn giản hơn, mang tính trung lập và dân chủ cao. Đồng thời, thuế GTGT cũng đã thể hiện được vai trò rất quan trọng trên mọi lĩnh vực như: khuyến khích SX, kinh doanh, xuất khẩu, thu hút được các nguồn đầu tư từ nước ngoài, thúc đẩy công tác hạch toán, kế toán trong SX, kinh doanh của các doanh nghiệp, góp phần tạo điều kiện chống thất thu thuế, tạo nguồn thu lớn và ổn định cho NSNN,. Việc chuyển sang áp dụng thuế GTGT thay thế cho thuế doanh thu ở Việt Nam vừa nhằm mục đích tăng cường sự hòa nhập với chính sách thuế của các nước trong khu vực và trên thế giới, đồng thời vươn tới việc cải cách, hoàn thiện hệ thống thuế thích hợp hơn cho việc thay đổi nền kinh tế từ kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Có thể thấy thuế GTGT xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, nhằm đáp ứng nhu cầu huy động Ngân sách ngày càng lớn của Nhà nước, thuế GTGT là nguồn động viên quan trọng.
Do được tính và thu ở từng khâu, từng giai đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh nên làm tăng nguồn thu rất lớn cho NSNN. Theo điều 2 Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 ngày 03/6/2008 của 7 Quốc Hội có quy định: Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng [16]. Đặc điểm của thuế GTGT Thuế GTGT được tính trên phần giá trị tăng thêm nên dù hàng hoá được mua đi bán lại như thế nào, dù bán cho người tiêu dùng trực tiếp hay qua nhiều bước thì kết quả cuối cùng Nhà nước vẫn thu được một khoản thuế cố định, đó chính là số thuế của toàn bộ giá trị hàng hoá mà người tiêu dùng cuối cùng phải trả. Nói cách khác, thuế GTGT đánh trên hành vi tiêu dùng, còn các cơ sở SX, kinh doanh với tư cách là những người trung gian nên không phải là người chịu thuế.
Có thể nói, bản chất của thuế GTGT là thuế tiêu dùng và đánh vào người tiêu dùng cuối cùng. Thuế GTGT tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ. Các cơ sở SX, kinh doanh bỏ thêm chi phí vào làm cho giá cả của hàng hoá, dịch vụ tăng lên. Phần thuế mà họ nộp vào Ngân sách thực chất là do người mua hàng hoá, dịch vụ đã thanh toán trong giá cả, tức là người tiêu dùng mới là người chịu thuế.
Lúc này các cơ sở SX, kinh doanh đóng vai trò là người thu hộ thuế và nộp hộ thuế cho người tiêu dùng. Thuế GTGT có tính xã hội hoá cao, đòi hỏi người tiêu dùng phải có ý thức trong việc chấp hành nghĩa vụ nộp thuế, qua đó mới góp phần cho công tác thu thuế, chống thất thu thuế GTGT có hiệu quả. Đặc biệt là đối với cơ chế doanh nghiệp tự kê khai, tính thuế và nộp thuế GTGT như ở nước ta hiện nay đòi hỏi nhân dân phải có tinh thần tự giác cao và ý thức chấp hành nghĩa vụ nộp thuế tốt. Thuế GTGT có phạm vi điều chỉnh rất rộng, áp dụng cho hầu hết các hàng hoá, dịch vụ sử dụng trong SX, kinh doanh và tiêu dùng trong tất cả các ngành nghề, ở tất cả các giai đoạn.
Thuế GTGT là một loại thuế có tính trung lập cao. Về phạm vi đánh thuế: thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn 8 ra trong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ. Vai trò thuế GTGT Thuế là công cụ rất quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế. Thuế GTGT là khoản thu quan trọng của NSNN.
Thuế GTGT tạo được nguồn thu lớn và tương đối ổn định cho NSNN và thể hiện rõ những vai trò sau: - Thuế GTGT không trùng lắp, do thuế GTGT chỉ tính vào giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ qua các khâu SX, lưu thông, tiêu dùng, không tính vào phần giá trị đã chịu thuế GTGT ở các khâu trước, thuế đã nộp ở các khâu trước được tính khấu trừ ở khâu sau nên khuyến khích các tổ chức, cá nhân bỏ vốn đầu tư phát triển SX, kinh doanh, khuyến khích chuyên môn hoá, hợp tác hoá SX, nâng cao hiệu quả kinh tế, phù hợp với phát triển kinh té. - Thuế GTGT thuộc loại thuế đánh vào tiêu dùng, được áp dụng rộng rãi, có phạm vi đối tượng thu rất rộng (Thu vào mọi tổ chức, cá nhân có tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ) do đó tạo ra nguồn thu lớn cho NSNN. - Thuế GTGT góp phần khuyến khích mạnh mẽ việc SX hàng hoá xuất khẩu, vì hàng hoá xuất khẩu được áp dụng thuế suất 0% và được hoàn trả lại toàn bộ số thuế GTGT đã thu ở khâu trước. Đồng thời nó còn kết hợp với thuế nhập khẩu làm tăng giá vốn của hàng hoá nhập khẩu mục đích bảo vệ SX kinh doanh nội địa.