Chương 1 tập trung đưa ra các khái niệm về đấu thầu, cạnh tranh trong đấu thầu, nêu lên các nội dung cần nâng cao khả năng cạnh tranh trong đấu thầu và khái quát các tiêu chí đánh giá khả năng cạnh tranh trong đấu thầu từ đó cho ta có khái luận chung về giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực CNTT&VT. Khái niệm đấu thầu đã có từ rất lâu, nhưng đối với ở Việt Nam, khái niệm này còn nhiều mới mẻ, xâm nhập vào nước ta từ cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX. Xuất phát từ nền kinh tế thị trường cạnh tranh việc mua bán diễn ra đều có sự cạnh tranh mạnh mẽ, thuật ngữ "đấu giá" được chúng ta biết đến nhiều hơn. Chúng ta hiểu "đấu giá" là hình thức có một bên bán và nhiều bên mua.
Trên cơ sở bên bán đưa ra một mức giá khởi điểm (giá ban đầu), sau đó để cho bên mua cạnh tranh với nhau trả giá và bên bán sẽ quyết định giá bán cho bên mua nào trả giá cao nhất. Một số người lại có sự nhầm lẫn và quy đồng "đấu giá" và "đấu thầu" là một. Nhưng đối với thực tiễn hoạt động và hình thức thể hiện thì "đấu thầu" lại là hình thức có một bên mua và nhiều bên bán cạnh tranh nhau. Bên mua sẽ lựa chọn bên bán nào đáp ứng một cách tốt nhất các yêu cầu của bên mua đặt ra.
Năm 1995 trong từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa “Đấu thầu là Phương thức giao dịch đặc biệt, người muốn xây dựng công trình, người gọi thầu công bố trước các yêu cầu và điều kiện để xây dựng công trình còn người dự thầu công bố giá mà mình muốn nhận. Người gọi thầu sẽ lựa chọn người dự thầu nào phù hợp với điều kiện của mình với giá thấp hơn”. Năm 1998 trong từ điển Tiếng Việt định nghĩa “Đấu thầu là đọ công khai ai nhận làm, nhận bán với điều kiện tốt nhất thì được giao cho làm hoặc bán”. Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 hiện nay định nghĩa “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử 5 dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế” (Luật đấu thầu số 43/2013/HQ13, 2013, trang 4).
Hoạt động đấu thầu tùy theo tính chất của nguồn vốn và phụ thuộc vào môi trường luật pháp. Để có thể hiểu rõ hơn về khái niệm đấu thầu, cũng để nghiên cứu các phần sau chúng ta cần phải làm rõ một số khái niệm có liên quan chặt chẽ với khái niệm đấu thầu. “Bên mời thầu là cơ quan, tổ chức có chuyên môn và năng lực để thực hiện các hoạt động đấu thầu, bao gồm: - Chủ đầu tư hoặc tổ chức do chủ đầu tư quyết định thành lập hoặc lựa chọn; - Đơn vị dự toán trực tiếp sử dụng nguồn vốn mua sắm thường xuyên; - Đơn vị mua sắm tập trung; - Cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức trực thuộc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền lựa chọn.” (Luật đấu thầu số 43/2013/HQ13, 2013, trang 3) “Chủ đầu tư là tổ chức sở hữu vốn hoặc tổ chức được giao thay mặt chủ sở hữu vốn, tổ chức vay vốn trực tiếp quản lý quá trình thực hiện dự án” (Luật đấu thầu số 43/2013/HQ13, 2013, trang 3) “Nhà thầu chính là nhà thầu chịu trách nhiệm tham dự thầu, đứng tên dự thầu và trực tiếp ký, thực hiện hợp đồng nếu được lựa chọn. Nhà thầu chính có thể là nhà thầu độc lập hoặc thành viên của nhà thầu liên danh.” (Luật đấu thầu số 43/2013/HQ13, 2013, trang 6) “Nhà thầu phụ là nhà thầu tham gia thực hiện gói thầu theo hợp đồng được ký với nhà thầu chính.
Nhà thầu phụ đặc biệt là nhà thầu phụ thực hiện công việc quan trọng của gói thầu do nhà thầu chính đề xuất trong hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất trên cơ sở yêu cầu ghi trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu.” (Luật đấu thầu số 43/2013/HQ13, 2013, trang 6) “Nhà thầu nước ngoài là tổ chức được thành lập theo pháp luật nước ngoài hoặc cá nhân mang quốc tịch nước ngoài tham dự thầu tại Việt Nam.” (Luật đấu thầu số 43/2013/HQ13, 2013, trang 6) 6 “Nhà thầu trong nước là tổ chức được thành lập theo pháp luật Việt Nam hoặc cá nhân mang quốc tịch Việt Nam tham dự thầu.” (Luật đấu thầu số 43/2013/HQ13, 2013, trang 6) - “Gói thầu là một phần hoặc toàn bộ dự án, dự toán mua sắm; gói thầu có thể gồm những nội dung mua sắm giống nhau thuộc nhiều dự án hoặc là khối lượng mua sắm một lần, khối lượng mua sắm cho một thời kỳ đối với mua sắm thường xuyên, mua sắm tập trung. - “Hồ sơ mời thầu là toàn bộ tài liệu sử dụng cho hình thức đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, bao gồm các yêu cầu cho một dự án, gói thầu, làm căn cứ để nhà thầu, nhà đầu tư chuẩn bị hồ sơ dự thầu và để bên mời thầu tổ chức đánh giá hồ sơ dự thầu nhằm lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư. - “Hồ sơ yêu cầu là toàn bộ tài liệu sử dụng cho hình thức chỉ định thầu, mua sắm trực tiếp, chào hàng cạnh tranh, bao gồm các yêu cầu cho một dự án, gói thầu, làm căn cứ để nhà thầu, nhà đầu tư chuẩn bị hồ sơ đề xuất và để bên mời thầu tổ chức đánh giá hồ sơ đề xuất nhằm lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư. - “Hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất” là toàn bộ tài liệu do nhà thầu, nhà đầu tư lập và nộp cho bên mời thầu theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu.
- “Hợp đồng là văn bản thỏa thuận giữa chủ đầu tư với nhà thầu được lựa chọn trong thực hiện gói thầu thuộc dự án; giữa bên mời thầu với nhà thầu được lựa chọn trong mua sắm thường xuyên; giữa đơn vị mua sắm tập trung hoặc giữa đơn vị có nhu cầu mua sắm với nhà thầu được lựa chọn trong mua sắm tập trung; giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với nhà đầu tư được lựa chọn hoặc giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với nhà đầu tư được lựa chọn và doanh nghiệp dự án trong lựa chọn nhà đầu tư. 7 Nói đến đấu thầu là nói đến một quá trình lựa chọn tức là việc đấu thầu phải tuân thủ theo trình tự, thủ tục nhất định. Điều này chỉ tạo ra cho đấu thầu một sự khắc biệt hẳn so với các hình thức khác thường gặp trong mua bán thông thường. Cạnh tranh (competion), về mặt thuật ngữ, được hiểu là sự cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động có mục tiêu và lợi ích giống nhau.
Trong kinh doanh cạnh tranh được định nghĩa là sự đua tranh giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành ưu thế trên cùng một loại tài nguyên, sản phẩm hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình. Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản của cơ chế thị trường. Không có cạnh tranh thì không có nền kinh tế thị trường. Nền kinh tế thị trường khi vận hành phải tuân thủ theo những quy luật khách quan riêng của mình, trong đó có quy luật cạnh tranh.
Theo quy luật này, các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến thiết bị triển khai, công nghệ, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm để giành ưu thế so với đối thủ của mình. Kết quả là kẻ mạnh cả về khả năng vật chất và trình độ kinh doanh sẽ là người chiến thắng. Cạnh tranh là động lực hay như A-đam X-mít gọi là "bàn tay vô hình" thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Nếu lợi nhuận thúc đẩy các cá nhân tiến hành sản xuất kinh doanh thì cạnh tranh lại bắt buộc và thôi thúc họ phải điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả cao nhất.
Khả năng cạnh tranh là khả năng dành chiến thắng trong sự ganh đua giữa các chủ thể trong cùng một môi trường và khi cùng quan tâm tới một đối tượng. Trên góc độ kinh tế, khả năng cạnh tranh được xem xét ở các góc độ khác nhau như khả năng cạnh tranh quốc gia, khả năng cạnh tranh doanh nghiệp, khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Tương tự như vậy với cách hiểu về khả năng cạnh tranh thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình tham gia đấu thầu chính là khả năng đấu tranh với những doanh nghiệp đối thủ và bằng mọi nguồn lực có thể đánh bại họ để giành chiến thắng trong quá trình tham gia đấu thầu. Nó được thể hiện ở chi phí sản 8 xuất thấp, giá thành thấp trong khi vẫn phải giữ cho được chất lượng sản phẩm đảm bảo.
Khi nói đến khả năng cạnh tranh là hàm ý so sánh với các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp. Muốn giữ và lôi kéo được khách hàng, doanh nghiệp phải có thực lực để thể hiện được lợi thế so với các đối thủ cạnh tranh khác. Thực tế cho thấy ít có doanh nghiệp nào có đầy đủ các lợi thế mà thường thì mạnh ở điểm này nhưng lại yếu ở điểm khác. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình tham gia đấu thầu không chỉ được thể hiện ở khả năng chuẩn bị HSDT mà còn được đánh giá ở hàng loạt các khả năng khác như khả năng tài chính, khả năng quản lý, tổ chức sản xuất, khả năng con người, khả năng triển khai kỹ thuật, khả năng bảo hành bảo trì hệ thống, khả năng chăm sóc khách hàng, khả năng marketing sản phẩm, uy tín và thị phần doanh nghiệp trên thị trường.
Nâng cao khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của của doanh nghiệp chính là việc thực thi các biện pháp nhằm tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong công tác đấu thầu. Việc nâng cao khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của doanh nghiệp không phải chỉ được thực hiện khi tham gia đấu thầu cụ thể mà phải được chuẩn bị từ rất sớm một cách toàn diện từ bố trí nguồn lực tài chính, nhân sự, kỹ thuật, phương tiện triển khai, quan hệ khách hàng, năng lực kinh nghiệm sản xuất. mới đảm bảo được cho doanh nghiệp có tỉ lệ thắng thầu ở mức cao.