phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc chia thành ba chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác tuyển dụng nhân lực tại các doanh nghiệp nhà nƣớc Chƣơng 2: Thực trạng công tác tuyển dụng nhân lực tại Tổng Công ty Đầu tƣ Phát triển đƣờng Cao tốc Việt Nam (VEC) Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác tuyển dụng nhân lực tại Tổng Công ty Đầu tƣ Phát triển đƣờng Cao tốc Việt Nam (VEC) 10 NỘI DUNG CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG NHÂN LỰC TẠI DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nhân lực “Nhân lực là nguồn lực trong mỗi con ngƣời” [4, trg 6].
Nó bao gồm cả thể lực và trí lực. Thể lực là các yếu tố nhƣ chiều cao, cân nặng, sức nâng, sức chịu đựng của cơ bắp…. Trí lực là các yêu tố nhƣ trình độ, khả năng, kinh nghiệm, trí tƣởng tƣợng… Nhân lực đƣợc thể hiện ra bên ngoài bởi khả năng làm việc. Nguồn lực của con ngƣời là yếu tố vô hạn vì vậy khả năng làm việc của ngƣời lao động cũng không có giới hạn.
Nó có thể phát triển không ngừng nếu đƣợc đặt đúng hoàn cảnh điều kiện. Tuyển dụng nhân lực Tuyển dụng là một trong những hoạt động nằm trong nhóm chức năng thu hút nhân lực trong hoạt động quản trị nhân lực. Có thể hiểu đơn giản, tuyển dụng nhân lực là quy trình tìm kiếm và đánh giá các ứng viên theo yêu cầu của công việc để chọn ra ngƣời phù hợp để đƣa vào các vị trí việc làm tổ chức cần. Theo bách khoa toàn thƣ Wikipedia : Tuyển dụng là quy trình sàng lọc và tuyển chọn những ngƣời có đủ năng lực đáp ứng một công việc trong một tổ chức, công ty, một chƣơng trình tự nguyện hay nhóm cộng đồng.
Tại các công ty cỡ nhỏ, các lãnh đạo trực tiếp hay phòng nhân sự thƣờng tham gia trực tiếp vào quá trình tuyển dụng. Trong đó các công ty cỡ lớn có thể thuê ngƣời làm một phần hay toàn bộ quy trình tuyển dụng. 11 Nhƣ vậy, có thể thấy, có rất nhiều các ý kiến khác nhau về tuyển dụng, nhƣng các ý kiến này đều có chung một nội dung thống nhất là tuyển dụng là một quá trình thu hút, tìm kiếm nhân lực còn thiếu cho tổ chức. Do đó chúng ta có thể hiểu tổng quát về tuyển dụng nhƣ sau: “Tuyển dụng nhân lực là quá trình tìm kiếm, thu hút những ứng viên từ những nguồn khác nhau ( trong và ngoài tổ chức) đến nộp đơn đăng ký tìm việc làm và lựa chọn trong số họ ngƣời phù hợp nhất với yêu cầu công việc đặt ra”.
Hiểu theo cách hiểu này, tuyển dụng gồm các hoạt động nhỏ sau: Tuyển mộ, tuyển chọn, đón tiếp, định hƣớng và thử việc nhân viên. Tuyển mộ nhân lực “Tuyển mộ là quá trình thu hút những ngƣời xin việc có trình độ từ lực lƣợng lao động bên ngoài và bên trong tổ chức để lựa chọn lao động cho các vị trí làm việc còn trống của tổ chức” [4, trg 315]. Về bản chất, hoạt động tuyển mộ là hoạt động giúp kết nối ngƣời lao động có nhu cầu xin việc với nhà tuyển dụng. Hoạt động tuyển mộ đƣợc coi là thành công nếu nó giúp tổ chức thu hút đƣợc đủ số lƣợng ứng viên với chất lƣợng cần thiết.
Trong thực tế vì nhiều nguyên nhân, có rất nhiều ngƣời lao động có trình độ phù hợp nhƣng vẫn thất nghiệp vì họ không biết đến các thông tin tuyển mộ hoặc họ không có cơ hội nộp đơn xin việc. Chất lƣợng của quá trình lựa chọn sẽ không đạt đƣợc nhƣ yêu cầu mong muốn hay hiệu quả thấp nếu nhƣ số lƣợng ngƣời nộp đơn xin việc bằng hoặc ít hơn số lƣợng lao động đang cần tuyển. Ngoài việc là cơ sở tiền đề để thực hiện thành công công tác tuyển chọn và tuyển dụng thì tuyển mộ giúp cho tổ chức khai thác đƣợc nguồn nhân lực, qua đó tuyển dụng đƣợc ngƣời lao động đáp ứng đƣợc các yêu cầu do tổ chức đặt ra, giúp cho lao động giỏi đến với tổ chức, giúp cho tổ chức tiết kiệm đƣợc các nguồn lực và năng cao hiệu quả hoạt động, giúp tổ chức thực hiện các chức năng quản trị nhân lực khác hiệu quả cao hơn. Tuyển chọn nhân lực “Tuyển chọn nhân lực là việc lựa chọn ứng viên cho các vị trí làm việc còn trống của tổ chức nhằm đáp ứng yêu cầu đặt ra của tổ chức đó cho các chức danh công việc cần tuyển dụng” [4, trg 325] Về thực chất tuyển dụng là việc đánh giá cân đo đong đếm các ứng viên theo nhiều khía cạnh khác nhau tùy theo yêu cầu của công việc để tìm đƣợc ngƣời phù hợp với yêu cầu đã đặt ra cho vị trí công việc còn trống trong tổng số những ngƣời đã thu hút đƣợc trong quá trình tuyển mộ.
Trong quá trình này, những cá nhân đƣợc giao nhiệm vụ tuyển chọn sẽ đánh giá các ứng viên nộp đơn xin việc vào tổ chức từ nhiều khía cạnh khác nhau và cân nhắc xem ai là ngƣời phù hợp nhất 1. Đón tiếp nhân viên Tiếp đón nhân viên là tạo cho nhân viên mới cảm giác mình là một thành viên rất quan trọng của tổ chức, tự hào về tổ chức, thấy rõ vai trò và trách nhiệm của mình đối với tổ chức và có đƣợc sự hào hứng khi đƣợc làm việc cho tổ chức” [5, trg 16]. Khi tiếp đón nhân viên mới sẽ tạo cho họ ấn tƣợng ban đầu tốt đẹp, tác động cho ngƣời lao động ngay từ những ngày đầu tiên vào làm việc tại tổ chức, nó tạo sự đoàn kết, gắn bó giữa nhân viên cũ và nhân viên mới trong tổ chức. Định hướng nhân viên “ Định hƣớng nhân viên là việc thiết kế và tổ chức thực hiện chƣơng trình nhằm giúp nhân viên mới làm quen với tổ chức và bắt đầu công việc với hiệu suất cao” [5, trg 18].
Chƣơng trình định hƣớng nhân viên thƣờng đƣợc kéo dài vài giờ hoặc vài tuần đầu tuần tiên kể từ ngày ngƣời lao động đến làm việc tại tổ chức, để nhân viên có thể hiểu rõ quyền và lợi của mình và tìm hiểu rõ hơn về văn hóa tổ chức,… Từ đó ngƣời lao động mới bắt cầu công việc với hiệu sất cao, mang lại lợi nhuận cho tổ chức. Thử việc “Thử việc là thời gian ngƣời lao động làm việc nhƣ một nhân viên tập sự” [5, trg 18]. Đây là khoảng thời gian mà ngƣời lao động cần chứng tỏ năng lực thực hiện công việc của mình để đƣợc ký hợp đồng tuyển dụng chính thức với tổ chức. Dựa vào thời gian thử việc, tổ chức sẽ đánh giá năng lực của ngƣời lao động và để khẳng định họ có chọn ngƣời phù hợp với công việc đó không; qua phỏng vấn, ngƣời lao động không thể thể hiện rõ năng lực bản thân; do đó ngƣời động cần có thời gian thử việc.
Các hoạt động trong tuyển dụng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Để thực hiện đƣợc mục đích của mình, cả tổ chức và ứng viên đều tham gia vào quá trình tuyển mộ. Tổ chức đăng tin tuyển mộ với những thông tin về tổ chức và công việc để tìm kiến và thu hút ứng viên. Các ứng viên tìm cho mình một tổ chức phù hợp bằng cách tìm hiểu về thông báo tuyển dụng của tổ chức, so sánh xem mình có phù hợp và đảm bảo đủ điều kiện để làm việc hay không sau đó nộp hồ sơ vào tổ chức để tham gia vào quá trình tuyển chọn của tổ chức.
Tổ chức thực hiện quá trình tuyển chọn bằng cách yêu cầu các ứng viên thực hiện các yêu cầu của tổ chức đƣa ra nhƣ trả lời phỏng vấn, làm trắc nghiệm, thử việc, trong khi đó tổ chức sẽ đo lƣờng và đánh giá từng ứng viên xem ai phù hợp nhất cho vị trí còn thiếu của tổ chức. Tổ chức sẽ ra quyết định tuyển dụng cuối cùng. Công tác tuyển dụng nhân lực Công tác tuyển dụng nhân lực là quá trình tổ chức, triển khai, vận hành các hoạt động tuyển dụng (thu hút, sàng lọc và ra quyết định tiếp nhận ứng viên) nhằm bổ sung nhân lực cho tổ chức khi cần thiết. Khi tổ chức có ngƣời lao động nghỉ việc hoặc mở rộng sản xuất hay máy móc cải tiến, tổ chức cần có nhu cầu tuyển dụng bổ sung nguồn nhân lực để đảm bảo nhu cầu sản xuất.
Khi đó, bộ phận chuyên trách công tác quản trị 14 nhân lực trong tổ chức sẽ chịu trách nhiệm lên kế hoạch, các bộ phận chức năng khác sẽ phối hợp thực hiện và từ đó tiến tới thực hiện: thu hút, sàng lọc và ra các quyết định tiếp nhận ứng viên để bổ sung nguồn lực mà tổ chức đang cần Nhƣ vậy, khác với tuyển dụng nhân lực, công tác tuyển dụng không chỉ đơn giản là hoạt động thu hút, sàng lọc hay tiếp nhận ứng viên mới. Công tác tuyển dụng nhân lực là tổng thể các hoạt động giúp vận hành hoạt động tuyển dụng nhân lực trong tổ chức. Hay nói cách khác, công tác tuyển dụng có hai hoạt động chính: hoạt động tuyển dụng (thu hút, sàng lọc, tiếp nhận ứng viên) và hoạt động tổ chức triển khai các nhiệm vụ mà các cá nhân, tập thể trong tổ chức phải thực hiện để có thể tiến hành tuyển dụng. Doanh nghiệp Nhà nước Ngoài Việt nam thì trên thế giới cũng có rất nhiều quốc gia quy định về loại hình Doanh nghiệp nhà nƣớc, chính vì vậy mà quy định về khái niệm của doanh nghiệp nhà nƣớc cũng đƣợc mỗi quốc gia hiểu theo cách khác nhau.
Trong đó, phải kể đến đầu tiên là việc định nghĩa doanh nghiệp nhà nƣớc của Liên hợp quốc định nghĩa là: “xí nghiệp quốc doanh là những xí nghiệp do nhà nƣớc nắm toàn bộ hoặc một phần sở hữu và nhà nƣớc kiểm soát tới một mức độ nhất định quả trình ra quyết định của xí nghiệp‟‟. Từ định nghĩa này có thể thấy rằng việc Liên hợp quốc rất chú trọng đến vấn đề sở hữu và quyền kiểm soát của nhà nƣớc trong doanh nghiệp nhà nƣớc. Song song với đó thì theo nhƣ quy định của Ngân hàng thế giới về định nghĩa của Doanh nghiệp Nhà nƣớc lại cho rằng: “Doanh nghiệp nhà nƣớc là các thực thể kinh tế thuộc sở hữu hay thuộc quyền kiểm soát của chinh phủ mà phần lớn thu nhập của họ đƣợc tạo ra thông qua việc bán các hàng hoá và dịch vụ”.