Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC NUÔI 9 TRỒNG VÀ CHẾ BIẾN THỦY SẢN 1. Khái niệm và đặc điểm của môi trường và pháp luật bảo vệ môi trường 1. Khái niệm, đặc điểm của môi trường Hiện nay khái niệm môi trường được nhìn nhận dưới các góc độ khác nhau. Phần lớn các nhà nghiên cứu quan niệm rằng: Môi trường chính là tập hợp các điều kiện và hiện tượng bên ngoài có ảnh hưởng tới sự sống.
Tuy nhiên một số nhà nghiên cứu cho rằng dùng thuật ngữ môi trường được hiểu theo nghĩa như trên xét dưới góc độ nghiên cứu và pháp lý là không chính xác. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về môi trường. Có thể kể đến một số quan điểm như sau: Theo định nghĩa của S.Kalesnik (1959, 1970) môi trường (được định nghĩa với môi trường địa lí) “chỉ là một bộ phận của trái đất bao quanh con người, mà ở một thời điểm nhất định xã hội loài người có quan hệ tương hỗ trực tiếp với nó, nghĩa là môi trường có quan hệ một cách gần gũi nhất với đời sống và hoạt động sản xuất của con người”5. Trong tài liệu “môi trường và tài nguyên Việt Nam đã đưa ra định nghĩa (viết câu) Trong tài liệu “môi trường và tài nguyên Việt Nam đã đưa ra định nghĩa môi trường là một nơi chốn trong số các nơi chốn, nhưng có thể là một nơi chốn đáng chú ý, thể hiện các màu sắc xã hội của một thời kì hay một xã hội" 6 Như vậy, có thể nhận thấy khái niệm về môi trường xét theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội.
Đối với nghĩa hẹp thì môi trường bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội 55 S.Kalesnik (1959, 1970) môi trường (được định nghĩa với môi trường địa lí) 6 Nguyễn Ngọc Sinh (1984), Môi trường và tài nguyên Việt Nam, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội 10 trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người được nhận và cần được bảo vệ.7 Xét dưới góc độ ngôn ngữ theo từ điển Tiếng Việt ghi nhận: Môi trường là một tổ hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh bên ngoài của một hệ thống nào đó. Chúng tác động lên hệ thống này và xác định xu hướng và tình trạng tồn tại của nó. Môi trường có thể coi là một tập hợp, trong đó hệ thống đang xem xét là một tập hợp con. Môi trường của một hệ thống đang xem xét cần phải có tính tương tác với hệ thống đó.
Hoặc môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như: Không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người… 8Môi trường là nơi xảy ra hiện tượng hoặc diễn ra một quá trình, trong quan hệ với hiện tượng quá trình ấy hoặc môi trường là toàn bộ những điều kiện tự nhiên, xã hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển, trong quan hệ với con người, với sinh vật ấy. Nói chung, môi trường của một khách thể bao gồm các vật chất, điều kiện hoàn cảnh, các đối tượng khác hay các điều kiện nào đó mà chúng bao quanh khách thể này hay các hoạt động của khách thể diễn ra trong chúng 9[29, tr.790] – Cách trích dẫn nên nhất quán – hoặc là để footnote, hoặc là để trong ngoặc vuông số thứ tự tài liệu cuối bài hoặc là để tên tác giả, năm trong ngoặc đơn và có trong tài liệu tham khảo cuối bài. Cách thứ 3 bây giờ thông dụng nhất). Những cách hiểu về môi trường như trên có đặc điểm chung là xem xét môi trường là một hệ thống có sự tác động đến con người.
Theo cách hiểu thông thường, khái niệm về môi trường đa phần không quan tâm đến tác động của nó là gì? Trên thực tế những tác động đó giữ vai trò như thế nào đối với sự 7 Lê Kim Nguyệt (2014), “Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường do hoạt động của làng nghề gây ra”, Tạp chí dân chủ và pháp luật. 8 Trung tâm từ điển học (2008), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng 9 Nhóm Ngân hàng thế giới (2017)“Tổng quan về Ô nhiễm Nông nghiệp ở Việt Nam”, Báo cáo tóm tắt. 11 phát triển của xã hội hiện nay? Từ đó đưa ra một định nghĩa mang tính chất tương đối về môi trường nói chung. Tuy nhiên, với định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt không chỉ quan tâm đến bản chất của môi trường gồm những yếu tố nào mà còn quan tâm đến tác động của nó đến con người và xã hội.
Như vậy, dưới một góc độ nào đó, việc định hình một cách cơ bản khái niệm về môi trường là điều hoàn toàn cần thiết, để từ đó, có thể áp dụng vào các quy định của pháp luật nhằm thực hiện mục tiêu là quản lý một cách có hiệu quả từ phía các cơ quan có thẩm quyền ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Dưới góc độ pháp lý, theo định nghĩa của UNESCO (1981) môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra (tập quán, niềm tin) trong đó con người sống và lao động, khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình10. Như vậy UNESCO đã lần đầu đưa ra một định nghĩa nhằm tạo nền tảng cho việc hình thành một khái niệm cơ bản về môi trường của tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc. Từ định nghĩa trên việc vận dụng pháp điển hóa thành các quy định của mỗi quốc gia là khác nhau nhằm phù hợp với sự nhìn nhận, văn hóa, sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đó nói chung.
Ở nước ta, Luật bảo vệ môi trường 2014 quy định: Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật 11. Từ khái niệm trên, có thể đưa ra những đặc điểm chung, cơ bản của khái niệm môi trường như sau: 10 Trương Quang Học (2012), Việt Nam thiên nhiên môi trường và phát triển bền vững, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội. 11 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật bảo vệ môi trường, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 12 Thứ nhất, môi trường được xem là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo.
Đây là một đặc điểm mang tính đặc trưng của môi trường. Yếu tố tự nhiên là yếu tố mang tính chất sẵn có, được hình thành và không chịu sự tác động của con người. Yếu tố nhân tạo là có sự tác động của con người, hiểu một cách cụ thể đó là do con người hình thành và phát triển. Các yếu tố tự nhiên và nhân tạo có sự tác động qua lại, từ đó hình thành nên một hệ thống có sự tác động vào các đối tượng ở bên trong nó.
Thứ hai, quá trình tác động vào sự tồn tại và phát triển của các đối tượng. Việc các yếu tố tự nhiên và nhân tạo tác động vào sự tồn tại và phát triển của những đối tượng bên trong nó là điều kiện cần thiết, thể hiện vai trò quan trọng của yếu tố môi trường. Đồng thời, khẳng định tính tất yếu rằng tất cả mọi sự vật hiện tượng luôn luôn chịu sự tác động của môi trường dù ít hay nhiều hoặc dưới góc độ tự nhiên hoặc nhân tạo. Thứ ba, chủ thể bị tác động đó là con người và sinh vật.
Môi trường tác động đến sự phát triển và tồn tại của con người và sinh vật. Tất cả các sinh vật và con người luôn luôn chịu tác động của yếu tố môi trường và không có trường hợp nào là ngoại lệ. Yếu tố môi trường tác động vào các chủ thể từ khi hình thành và phát triển cũng như tồn tại của các chủ thể đó. Đây chính là đặc trưng nổi bật của yếu tố môi trường so với các yếu tố khác trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của loài người.
Khái niệm, đặc điểm của pháp luật bảo vệ môi trường Bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của một cá nhân mà là của toàn xã hội. Hoạt động BVMT muốn đạt hiệu quả cao nhất thiết phải được pháp điển hoá thành các quy phạm, các đạo luật. Mặc dù vậy, hiện nay khái niệm pháp luật bảo vệ môi trường vẫn còn những cách hiểu khác nhau. 12 Nguyễn Ngọc Sinh (1984), Môi trường và tài nguyên Việt Nam, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội 13 Trong những năm qua, đất nước ta đã và đang tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, song song với phát triển kinh tế cũng cần ban hành các quy định pháp luật trong lĩnh vực BVMT.
Nhận thức rõ vai trò quan trọng của hoạt động bảo vệ môi trường, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã hoạch định, xây dựng và ban hành hệ thống văn bản pháp luật nhằm điều chỉnh. Có thể nói rằng, phạm vi và đối tượng điều chỉnh cụ thể trong từng văn bản pháp luật, các quan hệ về bảo vệ môi trường với luật chuyên ngành đã được xử lý một cách hài hoà và ngày càng mang tính khả thi cao. Thông qua hoạt động ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật chung và văn bản pháp luật chuyên ngành khác có quy định về nghĩa vụ bảo vệ môi trường đã tạo nên nền tảng pháp lý cơ bản trong hoạt động BVMT, theo hướng phát triển bền vững. Dựa trên các phân tích trên tác giả đưa ra khái niệm pháp luật bảo vệ môi trường như sau: Pháp luật bảo vệ môi trường là tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình các chủ thể có hành vi khai thác, sử dụng hoặc tác động đến môi trường.
(thiếu chủ ngữ) Đồng thời quy định quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động bảo vệ môi trường. Pháp luật bảo vệ môi trường được cấu thành bởi hệ thống quy phạm pháp luật được quy định tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như: Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh cho đến những văn bản hướng dẫn thi hành do Chính phủ, các Bộ, ban ngành hay chính quyền địa phương ban hành.