Chương 1: Lý luận chung về Vốn và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty TNHH Dược phẩm và Thiết bị Y tế Long Bình. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty TNHH Dược phẩm và Thiết bị Y tế Long Bình. Vì thời gian và hiểu biết còn hạn chế nên chuyên đề không tránh khỏi những sai sót.
Em mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo và các anh chị trong Công ty dé Em có thê mở rộng hiểu biết của mình. Em xin chân thành cảm ơn! CHUONG 1: LÝ LUẬN CHUNG VE VON VÀ HIỆU QUA SỬ DỤNG VON CUA DOANH NGHIEP 1. Vốn của doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc trưng của vốn Theo quan điểm của K.Marx, vốn là tư bản, mà tư bản được hiểu là giá trị mang lại giá trị thặng dư.
Như vậy, hiểu một cách thông thường, vốn là toàn bộ giá trị vật chất được doanh nghiệp đầu tư để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn có thể là toàn bộ của cải vật chat do con người tạo ra và tích luy được qua thời gian sản xuất kinh doanh cũng có thể là những của cải mà thiên nhiên ban cho như đất đai, khoáng sản. Với sự phát triển vũ bão của nền kinh tế thị trường, các ngành nghề mới liên tục ra đời, quan niệm về vốn cũng ngày càng được mở rộng. Bên cạnh vốn hữu hình, dễ dàng được nhận biết, còn tồn tại và được thừa nhận là vốn vô hình như: các sáng chế phát minh, nhãn hiệu thương mại, kiểu dáng công nghiệp, vị trí đặt trụ sở của doanh nghiệp.
Theo cách hiểu rộng hơn, người lao động cũng được rất nhiều doanh nghiệp coi là một trong những nguồn vốn quan trọng. Có thể thấy, vốn tồn tại trong mọi giai đoạn sản xuất kinh doanh, từ dự trữ; sản xuất đến lưu thông; doanh nghiệp cần vốn dé đầu tư xây dựng cơ bản; cần vốn dé duy trì sản xuất và để đầu tư nâng cao năng lực sản xuất. Quyết định tài trợ, do đó, là một trong 3 nhóm quyết định quan trọng của tài chính doanh nghiệp và có ảnh hưởng sâu sắc tời mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp - tối đa hoá giá trị doanh nghiệp. Có nhiều khái niệm về vốn khác nhau tuy nhiên ta có thé nói như sau: Đề tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh bat kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần phải có tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động.
Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố này để tạo ra sản phâm, doanh nghiệp dịch vụ. Trong nén kinh tế hang hóa tiền tệ, dé có được các yếu tố cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh trên đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng tiền vốn nhất định. Chỉ khi nào có được tiền vốn doanh nghiệp mới có thể đầu tư mua sắm các tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng như dé trả lương cho người lao động. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp không chỉ có nhiệm vụ sản xuất ra sản phẩm mà còn có nhiệm vụ tiêu thụ sản phẩm đó.
Khi sản phẩm được tiêu thụ doanh nghiệp sẽ có được một khoản tiền gọi là doanh thu tiêu thu sản phẩm, trong đó một phần dung dé bù đắp cho tài sản cố định hao mòn. một phần dé tái lập các vật dự trữ trong kỳ tiếp theo và mở rộng quy mô sản xuất, một phần tra lương cho người lao động. Do đó các tư liệu lao động và đối tượng lao động mà doanh nghiệp phải đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh chính là hình thái hiện vật của vốn sản xuất kinh doanh và vốn băng tiền chính là tiền đề cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vậy vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bang tiền của toàn bộ giá trị tài sản được dụng dé đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận.
Khái niệm về vốn cố định: Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận sản xuât kinh doanh ứng ra dé hình thành nên tài sản cố định của doanh nghiệp. Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu, có đặc điểm là tham gia nhiều chu kỳ sản xuất và giá trị của nó được dịch chuyên dần vào giá trị sản phẩm. Tài sản cô định khi tham gia vào quá trình sản xuất không bị thay đổi hình thái ban đầu nhưng tính năng và công suất bị giảm dần, tức là nó bị hao mòn cùng với giá trị của nó cũng giảm đi. - Khái niệm về vốn lưu động: Vốn lưu động của doanh nghiệp là một bộ phận vốn sản xuất kinh doanh ứng ra để mua sắm và hình thành tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu thông nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp một cách thường xuyên liên tục.
Tái sản lưu động của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất luôn thay đổi hình thái biểu hiện dé tạo ra sản phẩm. Vì vậy giá trị của nó cũng được dich chuyên một lần vào giá trị sản phẩm tiêu thụ. Đặc điểm này quyết định sự vận động của vốn lưu động, tức là hình thái giá tri của tài sản lưu động là khởi đầu vòng tuần hoàn của vốn, vốn lưu động từ hình thái tiền tệ sang hình thái vật tư hang hóa dự trữ. Qua giai đoạn san xuất vật tư được đưa vào chế tạo bán thành phẩm và thành phẩm.
Kết thúc vòng tuần hoàn sau khi hàng hóa tiêu thụ, vốn lưu động lại trở về hình thái tiền tệ như điểm xuất phát ban đầu của nó. * Đặc trưng cơ bản của vốn Vốn là giá trị toàn bộ tài sản hữu hình (nhà xưởng, máy móc thiết bị.), tài sản vô hình (sáng chế, phát minh, nhãn hiệu thương mại.) mà doanh nghiệp đầu tư và tích luỹ được trong quá trình sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra giá trị thặng dư. Vốn tồn tại trong mọi quá trình sản xuất và được chuyền hoá từ dang này sang dang kia: từ nguyên, nhiên vật liệu đầu vào đến các chỉ phí sản xuất đở dang, bán thành phẩm và cuối cùng chuyền hoá thành thành pham rồi chuyên về hình thái tiền tệ. Vốn luôn gắn liền với quyền sở hữu, việc nhận định rõ và hoạch định cơ cấu nợ — vốn chủ sở hữu luôn là một nội dung quan trọng và phức tạp trong quản lý tài chính doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, vốn còn được coi là một hàng hoá đặc biệt do có sự tác bạch giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng. Do đó, việc huy động vốn bằng nhiều con đường: phát hành cổ phiếu, trái phiếu; tín dụng thương mại; vay ngân hang.dang được các doanh nghiệp rất quan tâm và được vận dụng linh hoạt. Do sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng, sự luân chuyển phức tap của vốn nên yêu cầu quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả tránh lãng phí thất thoát được đặt lên cao. Tam quan trong của vốn Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải nam giữ được lượng vốn nào đó.
Số vốn này thể hiện toàn bộ quyền quản lý và sử dụng tại doanh nghiệp, tại một thời điểm nhất định. Vốn được đưa vào sản xuất kinh doanh được thé hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Nó bao gồm tài sản hữu hình và tài sản vô hình cũng như mọi kiến thức tích lũy của doanh nghiệp, sự khéo léo, trình độ quản lý và tác nghiệp của lãnh đạo, nhân viên. Phân loại vốn Nghiên cứu vốn, hiểu rõ hơn và tìm cách phân loại dé có những phương thức cụ thé với từng loại.
Tùy theo những tiêu thức mà vốn được phân chia theo nhiều loại khác nhau: - Theo nguồn hình thành + Vốn chủ sở hữu: là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ quyền chiếm hữu chi phối và định đoạt. Nó có thể hình thành do nhà nước cấp, do doanh nghiệp bỏ ra hoặc do góp vốn cô phần, bổ sung từ lợi nhuận dé lại. Hình thành từ thăng dư vốn: đây là khái niệm chi chênh lệch giữa giá trị thị trường của cổ phiếu thường và mệnh giá của nó ở thời điểm phát hành. Hình thành từ thu nhập giữ lại; trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh nêu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ có những điều kiện thuận lợi để gia tăng nguồn vốn.
Nguồn vốn tích lũy từ thu nhập giữ lại để tái đầu tư, tài trợ cho các dự án mở rộng sản xuất kinh doanh cua doanh nghiệp. Phân loại vốn Hình thành từ phát hành cổ phiếu. + Nợ phải trả; là toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp phải thanh toán tại một thời điểm nào đó cho các chủ sở hữu khác. Hình thành do doanh nghiệp phát hành trái phiếu, nợ khách hàng, cán bộ công nhân viên.
- Theo phạm vi huy động vẫn + Huy động từ bên trong: Từ nguồn vốn chủ sở hữu :huy động từ số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp Từ quỹ khấu hao : để bù đắp giá trị TSCĐ bị hao mòn trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải dịch chuyên dần phần giá trị hao mòn đó vào giá trị sản phẩm sản xuất trong kỳ gọi là khấu hao TSCD .Bộ phận giá trị hao mòn được dịch chuyền vào giá trị sản phẩm được coi là một yếu tố chi phí sản xuất sản phâm được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ gọi là tiền khấu hao TSCD. Sau khi sản pham hang hoá được tiêu thụ, số tiền khấu hao được tích luỹ hình thành quỹ khấu hao TSCD của doanh nghiệp. Từ lợi nhuận dé tái đầu tư: Khi một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả thì phần lợi nhuận thu được có thé được trích ra một phần để tái đầu tư nhằm mở rộng hoạt động kinh doanh. + Huy động vốn từ bên ngoài: Từ hoạt động liên doanh liên kết: Nguồn vốn liên kết là những nguồn đóng theo tỷ lệ của các chủ đầu tư để nhằm thực hiện một phi vụ kinh doanh ngắn hạn hoặc đầu tư dài hạn do mình thực hiện và cùng chia lợi nhuận.
Việc góp vốn liên kết có thê được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau tuỳ theo từng loại hình của doanh nghiệp. - Theo thời gian huy động + Nguồn vốn thường xuyên: Tương ứng với mỗi một quy mô nhất định đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn thường xuyên cần thiết dé dam bảo cho quá trình kinh doanh diễn ra liên tục.