Chương 1: Cơ sở lý luận về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tạ Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tạ 6 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm và đặc trưng của vốn kinh doanh 1.1 Khái niệm V ,s kinh doanh , dư đ au khi ề lớn hơn ban đầu. Khi đó vốn thặ ừ các phân tích ở trên có thể ốn kinh doanh như sau: 7 Luan van Nguyễn Thu Thủy (2011) : “vốn là tiềm lực tài chính của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia” Theo nghĩa rộng thì: “vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản xuất hàng hoá, dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các kiến thức kinh tế, kỹ thuật của doanh nghiệp được tích luỹ, sự khéo léo về trình độ quản lý và tác nghiệp của các cán bộ điều hành, cùng đội ngũ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp”. Quan điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác đầy đủ hiệu quả của vốn trong nền kinh tế thị trường.
Tuy nhiên, việc xác định vốn theo quan điểm này rất khó khăn, phức tạp, nhất là khi nước ta với trình độ quản lý kinh tế còn chưa cao và pháp luật chưa hoàn chỉnh. Theo quan điểm của Mác, dưới góc độ các yếu tố sản suất, Mác cho rằng: Vốn (tư bản) là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là đầu vào của quá trình sản suất. Định nghĩa của Mác về vốn có tầm khái quát lớn vì nó bao hàm đầy đủ bản chất và vai trò của vốn. Bản chất của vốn là giá trị, mặc dù nó được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: tài sản cố định, nguyên vật liệu, tiền công.
Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ phát triển của nền kinh tế, Mác chỉ bó hẹp khái niệm về vốn trong khu vực sản xuất vật chất và cho rằng chỉ có quá trình sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế. Đây là một hạn chế trong quan niệm về vốn của Mác”. Theo David Begg (2007) ông đã đưa ra hai định nghĩa về vốn là: Vốn hiện vật và vố doanh nghiệp. Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hoá khác.
Vốn tài chính là các giấy tờ có giá và tiền mặt của doanh nghiệp. Như vậy, đã có sự đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp trong định nghĩa của David Begg”. Một số nhà kinh tế học khác lại cho rằng: Vốn có nghĩa là phần lượng sản phẩm tạm thời phải hi sinh cho tiêu dùng hiện tại của nhà đầu tư, để đẩy mạnh sản xuất tiêu dùng trong tương lai. Quan điểm này chủ yếu phản ánh động cơ về đầu tư nhiều hơn là nguồn vốn và biểu hiện của nguồn vốn.
Do vậy quan điểm này cũng 8 Luan van không đáp ứng được nhu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng như phân tích vốn. Nguyễn Thu Thủy (2011) “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”. , nhau về vốn ở trên được vai trò tác dụng với các yêu cầu, mục đích nghiên cứu cụ thể trong cơ chế thị trường hiện nay. trên và quản lý, các đó chưa được các yêu cầu quản lý đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Mặc dù còn nhiều quan điểm về vốn nhưng có thể đi đến một định nghĩa thống nhất về vốn kinh doanh như sau: “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời” (Nguyễn Đình Kiệ ạch Đức Hiền, 2008).2 Đặc trưng của vốn kinh doanh Để quản lý và sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp một cách hợp lý và hiệu quả đòi hỏi nhà quản trị cần nhận thức đúng và đầy đủ các đặc trưng của vốn kinh doanh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn trong doanh nghiệp có các đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất: Vốn kinh doanh đại diện cho một lượng tài sản ứng trước và biểu hiện bằng giá trị tiền tệ nhất định để dùng vào quá trình sản xuất kinh doanh. Vốn chính là biểu hiện về mặt giá trị của các loại tài sản như: máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, hàng hoá, bằng phát minh sáng chế, lợi thế kinh doanh. trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Do đó, không thể có vốn mà không có tài sản hoặc ngược lại. Song, chỉ những tài sản có giá trị và giá trị sử dụng phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mới được coi là vốn. 9 Luan van Thứ hai: Vốn kinh doanh phải vận động sinh lời, đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Ban đầu vốn được biểu hiện bằng một lượng tiền nhất định, nhưng đó chỉ là dạng tiềm năng của vốn.
Để biến thành vốn thì đồng tiền đó phải được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằ ục tiêu kiếm lời. Trong quá trình vận động, vốn kinh doanh tồn tại dưới nhiề ật chất khác nhau nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn này phải là giá trị - là tiề ốn phải quay về xuất phát điểm với giá trị lớn hơn, đó là nguyên lý đầu tư, sử dụng và bảo toàn vốn. Đặc trưng này của vốn xuất phát từ nguyên tắc: tiền chỉ được coi là vốn khi chúng đượ ản xuất kinh doanh, chúng vận động biến đổi hình thái biểu hiện nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn là giá trị tiền phải lớn hơn khi xuất phát. Thứ ba: Vốn kinh doanh phải được tập trung, tích tụ thành một lượng nhất định mới có thể phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh.
Đặc trưng này đòi hỏi doanh nghiệp cần lập kế hoạch huy động đủ lượng vốn cần thiết và trong quá trình kinh doanh doi dư cần tái đầu tư lợi nhuận hoạt động kinh doanh mang. Thứ tư: Vốn kinh doanh có giá trị về mặt thời gian, nhất là trong nền kinh tế thị trường như hiện nay thì điều này thể hiện rất rõ. Nghĩa là phải xem xét yếu tố thời gian của đồng tiền. Do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như lạm phát, giá cả thay đổi, khoa học không ngừng nâng cao, nên sức mua của đồng tiền ở mỗi thời điểm khác nhau là khác nhau.
Đây là một đặc điểm mà các doanh nghiệp cần đặc biệt quan tâm, nhất là khi xem xét, lựa chọn các phương án đầu tư. Thứ năm: Vốn kinh doanh phải được sử dụng có hiệu quả, gắ ới chủ sở hữu nhất đị ản lý chặt chẽ tránh thất thoát. 10 Luan van inh tế có sự quyền sử dụ quyền sở hữu vốn, tùy thuộc vào chủ sở hữ hình thức đầu tư có thể là người sử dụng vốn hoặc người sử dụng vố ồng vốn mình đang nắm giữ, đồng vốn vô chủ. Thứ sáu: Trong nền kinh tế thị trường, vốn được xem là một loại hàng hóa đặc biệt.
có giá trị và giá trị sử dụng như hàng hóa khác – giá trị sử dụng vốn là để sinh lời, khi sử dụng hàng hóa “vốn” sẽ tạo ra một lượng giá trị lớn hơn trước. Tuy nhiên, khác với hàng hóa thông thường khác, quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn có thể được gắn với nhau song cũng có thể tách rời nhau. Vốn khi bán ra không mất đi quyền sở hữu mà chỉ mất đi quyền sử dụng và người mua vốn chỉ được quyền sử dụng vốn đó trong một thời gian nhất định, đến thời hạn hoàn trả cả vốn và lãi.2 Phân loại vốn kinh doanh của doanh nghiệp Vốn kinh doanh được phân chia thành các loại khác nhau dựa trên góc độ tiếp cận khác nhau. Góc độ quan hệ sở hữu vốn: Vốn kinh doanh của doanh nghiệp được phân loại thành: nguồn vốn chủ sở hữu và các khoản nợ phải trả (gọi tắt là nợ phải trả) - Vốn chủ sở hữu: là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, bao gồm phần vốn góp ban đầu, nguồn vốn từ lợi nhuận không chia và phát hành cổ phiếu.
- Nợ phải trả: thể hiện bằng tiề nghĩa vụ mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế khác như: nợ vay, các khoản phải trả cho người bán, cho nhà nước, cho người lao động, cho ngân hàng thương mại, cho … Góc độ thời gian huy động và sử dụ : ủa doanh nghiệp được chia thành: nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời. 11 Luan van - Nguồn vốn thường xuyên: là tổng thể các nguồn vốn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng vào hoạt động kinh doanh, thường được sử dụng để mua sắm hình thành tài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu động thường xuyên của doanh nghiệp. - Nguồn vốn tạm thời: là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một năm), doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các yêu cầu có tính chất tạm thời phát sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Góc độ phạm vi huy động: Vốn kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành hai nguồn: nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài.
- Nguồn vốn bên trong: là nguồn vốn có thể huy động được vào đầu tư từ chính hoạt động của bản thân doanh nghiệp tạo ra. - Nguồn vốn bên ngoài: là nguồn vốn được huy động từ bên ngoài doanh nghiệp để tăng thêm nguồn tài chính cho hoạt động kinh doanh. Góc độ vai trò và tính chất luân chuyển vốn: Theo tiêu thức này, vốn kinh doanh của doanh nghiệp được phân loại thành: vốn cố định và vốn lưu động. + Vốn cố định (VCĐ): “VCĐ của doanh nghiệp là bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về TSCĐ.
Đặc điểm của nó là chu chuyển giá trị dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ kinh doanh và hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất được TSCĐ về mặt giá trị”. Tài sản cố định là những tài sản có giá trị lớn, có thời gian sử dụng dài cho các hoạt động của doanh nghiệp và phải thỏa mãn đồng thời các tiêu chuẩn là tài sản cố định, cụ thể: - Tiêu chuẩn về thời gian: Có thời gian sử dụng từ một năm trở lên.