Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều biến động giai đoạn 2019 - 2021, ngành xây dựng Việt Nam phải đối mặt với áp lực nặng nề về thanh khoản, giá nguyên vật liệu tăng cao và sự kéo dài của chu kỳ thu hồi công nợ. Tại Công Ty Cổ Phần Xây Dựng Trường Xuân (tỉnh Quảng Bình), tổng nguồn vốn tính đến năm 2021 đạt 32.226,6 triệu đồng, trong đó vốn lưu động bình quân chiếm tỷ trọng áp đảo lên tới 31.714,3 triệu đồng (chiếm trên 98% tổng nguồn vốn). Tuy nhiên, công tác quản trị vốn lưu động đang bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng khi thời gian luân chuyển vốn kéo dài kỷ lục lên đến 1.059 ngày vào năm 2020 và các khoản phải thu ngắn hạn thường xuyên chiếm trên 65% tổng vốn lưu động.

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi đặt ra là làm thế nào để rút ngắn chu kỳ luân chuyển tiền mặt, hạn chế rủi ro thất thoát vốn do bị khách hàng chiếm dụng, đồng thời nâng cao hiệu suất sinh lời trên mỗi đồng vốn lưu động trong điều kiện hệ số nợ của công ty luôn duy trì ở mức cao 88%. Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa khung lý thuyết về vốn lưu động, phân tích thực trạng hiệu quả chu chuyển vốn tại Công Ty Cổ Phần Xây Dựng Trường Xuân trong giai đoạn 2019 - 2021, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp tài chính khả thi cho giai đoạn 2022 - 2025.

Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với doanh nghiệp xây lắp quy mô vừa và nhỏ. Luận văn cung cấp các giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy tốc độ quay vòng vốn từ 0,53 vòng hướng tới mục tiêu 1,5 - 2,0 vòng/năm, đồng thời kéo giảm hàm lượng vốn lưu động từ mức 1,89 đồng xuống dưới mức 0,8 đồng trên một đồng doanh thu thuần.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng của hai lý thuyết tài chính kinh điển: Lý thuyết chu chuyển vốn lưu động (Operating and Cash Conversion Cycle Theory) và Lý thuyết tài trợ vốn lưu động (Working Capital Financing Policy). Các lý thuyết này khẳng định vốn lưu động là huyết mạch duy trì tính liên tục của quá trình sản xuất kinh doanh, vận động không ngừng qua ba giai đoạn: dự trữ sản xuất, sản xuất trực tiếp và lưu thông tiêu thụ.

Nghiên cứu làm rõ 5 khái niệm cốt lõi:

  1. Vốn lưu động (Working Capital): Biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản lưu động phục vụ chu kỳ sản xuất kinh doanh ngắn hạn.
  2. Vòng quay vốn lưu động: Số lần mà vốn lưu động hoàn thành một chu kỳ vận động trong kỳ phân tích (thường tính trên chuẩn 360 ngày).
  3. Kỳ luân chuyển vốn lưu động: Số ngày trung bình cần thiết để vốn lưu động thực hiện được một vòng quay trọn vẹn.
  4. Hàm lượng vốn lưu động: Lượng vốn lưu động cần thiết để tạo ra 1 đồng doanh thu thuần.
  5. Tỷ suất sinh lời vốn lưu động: Tỷ lệ phần trăm giữa lợi nhuận sau thuế thu được trên tổng số vốn lưu động bình quân đưa vào vận hành.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập trực tiếp từ Báo cáo tài chính đã kiểm toán của Công Ty Cổ Phần Xây Dựng Trường Xuân trong 3 năm liên tiếp (2019, 2020 và 2021), bao gồm Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Thuyết minh báo cáo tài chính. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ hệ thống số liệu kế toán hoàn chỉnh trong 36 tháng hoạt động thực tế của doanh nghiệp, kết hợp bộ chỉ số trung bình ngành xây dựng từ các niên giám thống kê tài chính doanh nghiệp Việt Nam.

Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling), tập trung chuyên sâu vào một doanh nghiệp xây lắp đặc thù để mổ xẻ toàn diện các mắt xích luân chuyển vốn. Phương pháp phân tích chủ đạo gồm: phân tích tỷ số tài chính (Financial Ratio Analysis), so sánh ngang - so sánh dọc (Horizontal and Vertical Analysis), và phương pháp phân tích nhân tố biến động. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm bóc tách chính xác mối liên hệ nhân quả giữa quy mô công nợ, mức dự trữ tồn kho và doanh thu thực tế đối với tốc độ chu chuyển vốn trong điều kiện biên lợi nhuận ngành xây dựng chịu nhiều biến động.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát thực chứng bức tranh tài chính của Công Ty Cổ Phần Xây Dựng Trường Xuân giai đoạn 2019 - 2021 mang lại 4 phát hiện quan trọng:

  • Tốc độ luân chuyển vốn lưu động sụt giảm mạnh và ở mức rất thấp: Năm 2019, số vòng quay vốn lưu động đạt 0,89 vòng (kỳ luân chuyển 404 ngày). Sang năm 2020, vòng quay sụt giảm nghiêm trọng xuống còn 0,34 vòng (kỳ luân chuyển tăng vọt lên 1.059 ngày) do doanh thu thuần giảm 61,37%. Đến năm 2021, chỉ số này hồi phục nhẹ lên 0,53 vòng (kỳ luân chuyển 679 ngày). So với mức bình quân ngành xây dựng là 3,16 vòng/năm, tốc độ quay vòng vốn của doanh nghiệp chậm hơn gần 6 lần.
  • Khoản phải thu ngắn hạn chiếm tỷ trọng áp đảo: Nợ phải thu ngắn hạn năm 2019 là 19.408,6 triệu đồng (chiếm 63,14% tổng VLĐ), năm 2020 tăng lên 21.130,0 triệu đồng (chiếm 67,59%) và năm 2021 là 20.846,5 triệu đồng (chiếm 65,73%). Tỷ lệ này cao gấp 1,5 lần so với mức trung bình của các doanh nghiệp xây dựng cùng quy mô.
  • Hàm lượng vốn lưu động cao bất thường: Doanh nghiệp cần tới 1,12 đồng VLĐ năm 2019; 2,96 đồng VLĐ năm 2020 và 1,89 đồng VLĐ năm 2021 để tạo ra 1 đồng doanh thu thuần. Trong khi đó, mức bình quân ngành chỉ cần 0,32 đồng VLĐ để tạo 1 đồng doanh thu.
  • Kiểm soát hàng tồn kho và lợi nhuận có dấu hiệu tích cực: Giá trị hàng tồn kho giảm dần từ 9.745,9 triệu đồng (chiếm 31,7% VLĐ năm 2019) xuống còn 7.788,3 triệu đồng (chiếm 24,56% VLĐ năm 2021), thấp hơn rất nhiều so với mức 50% trung bình ngành. Đồng thời, tỷ suất sinh lời trên vốn lưu động tăng trưởng đều đặn từ 2,58% (năm 2019) lên 2,75% (năm 2020) và đạt 3,12% (năm 2021), tương ứng lợi nhuận sau thuế tăng từ 585,05 triệu đồng lên 988,90 triệu đồng.

Thảo luận kết quả

Khi mô hình hóa dữ liệu trên biểu đồ radar và bảng so sánh biến động tài chính, có thể thấy nguyên nhân chính dẫn đến sự đình trệ chu chuyển vốn không nằm ở khâu quản trị hàng tồn kho mà nằm ở khâu thanh toán và thu hồi công nợ. Do đặc thù các công trình xây dựng hạ tầng kéo dài, thủ tục nghiệm thu thanh quyết toán vốn đầu tư công phức tạp, doanh nghiệp bị các chủ đầu tư chiếm dụng vốn với quy mô trên 20.000 triệu đồng mỗi năm.

Bên cạnh đó, việc duy trì hệ số nợ lên đến 88% (tổng nợ phải trả năm 2021 là 28.225,0 triệu đồng, trong đó nợ ngắn hạn chiếm 26.537,5 triệu đồng) đặt doanh nghiệp vào rủi ro thanh khoản rất lớn. Mặc dù doanh nghiệp đã khai thác tối đa việc chiếm dụng vốn từ nhà cung cấp (khoản phải trả người bán đạt 9.626,6 triệu đồng năm 2021) để bù đắp thiếu hụt tiền mặt, nhưng việc hàm lượng vốn lưu động cao gấp 6 lần trung bình ngành (1,89 so với 0,32) cho thấy hiệu quả phân bổ vốn còn phân tán, chi phí cơ hội của đồng vốn bị chôn chặt trong các khoản nợ đọng là rất lớn.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp tài chính đồng bộ nhằm tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại doanh nghiệp:

  1. Thiết lập quy trình quản trị và thu hồi nợ phải thu quyết liệt: Ban Giám đốc cần thành lập Tổ chuyên trách thu hồi công nợ trực thuộc Phòng Tài chính - Kế toán; áp dụng chính sách chiết khấu thanh toán sớm từ 1,5% đến 2,0% giá trị nghiệm thu cho các chủ đầu tư thanh toán trong vòng 15 ngày; kiên quyết trích lập dự phòng nợ khó đòi và tái đàm phán tiến độ giải ngân theo từng hạng mục thi công. Mục tiêu cụ thể là giảm tỷ trọng nợ phải thu từ mức 65,73% hiện tại xuống dưới 45,0% tổng vốn lưu động trong giai đoạn 2023 - 2024.
  2. Tối ưu hóa chu kỳ thi công và hạ thấp hàm lượng vốn lưu động: Phòng Kế hoạch - Kỹ thuật cần áp dụng phần mềm quản lý tiến độ số hóa, chuẩn hóa hồ sơ nghiệm thu giai đoạn để rút ngắn thời gian luân chuyển vốn từ 679 ngày xuống dưới 240 ngày. Mục tiêu nâng số vòng quay vốn lưu động từ 0,53 vòng lên mức tối thiểu 1,5 - 2,0 vòng/năm và kéo giảm hàm lượng vốn lưu động từ 1,89 đồng xuống dưới 0,80 đồng trên mỗi đồng doanh thu vào cuối năm 2025.
  3. Mở rộng danh mục đầu tư tài chính ngắn hạn linh hoạt: Phòng Tài chính - Kế toán cần chủ động phân bổ dòng tiền nhàn rỗi ngắn hạn giữa các đợt giải ngân công trình vào các chứng chỉ tiền gửi và tiền gửi kỳ hạn linh hoạt 1 - 3 tháng, nâng quy mô đầu tư tài chính ngắn hạn từ 1.699,0 triệu đồng (chiếm 5,4% VLĐ năm 2021) lên mức 3.000,0 - 3.500,0 triệu đồng trong giai đoạn 2023 - 2025 nhằm gia tăng doanh thu tài chính.
  4. Tái cấu trúc nguồn vốn và gia tăng tỷ lệ tự chủ tài chính: Hội đồng Quản trị cần thực hiện chiến lược giữ lại tối thiểu 50% lợi nhuận sau thuế (vốn đạt 988,9 triệu đồng năm 2021) để bổ sung vào Quỹ đầu tư phát triển và Quỹ dự phòng tài chính; từng bước giảm hệ số nợ từ 88% xuống mức an toàn 70 - 75% trước năm 2025 nhằm giảm thiểu áp lực trả nợ ngắn hạn khi chính sách tín dụng thắt chặt.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống giải pháp của luận văn mang lại giá trị thực tiễn sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Ban Lãnh đạo và Giám đốc Tài chính (CFO) các doanh nghiệp xây dựng: Cung cấp bài học thực chứng về kiểm soát rủi ro công nợ khách hàng (vốn chiếm tới 65,73% vốn lưu động) và kỹ thuật cân đối dòng tiền trong điều kiện tỷ lệ đòn bẩy nợ cao ở mức 88%.
  2. Chuyên viên phân tích tài chính và Kế toán trưởng: Ứng dụng trọn vẹn bộ công thức tính toán và phương pháp phân tích độ nhạy của các chỉ tiêu luân chuyển vốn (vòng quay, kỳ luân chuyển, hàm lượng vốn) vào việc lập kế hoạch lưu chuyển tiền tệ cho từng dự án xây lắp cụ thể.
  3. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Tài chính - Ngân hàng, Quản trị Kinh doanh: Sử dụng làm tài liệu tham khảo nghiên cứu điển hình (case study) về tác động của chu kỳ kinh tế và biến động doanh thu (sụt giảm 61,37% năm 2020) tới hiệu suất sử dụng vốn ngắn hạn của doanh nghiệp.
  4. Chuyên viên thẩm định tín dụng tại các Ngân hàng thương mại: Tham khảo phương pháp đánh giá thực chất khả năng giải phóng hàng tồn kho và mức độ lành mạnh của các khoản phải thu ngắn hạn khi cấp hạn mức vốn lưu động cho nhà thầu xây dựng.

Câu hỏi thường gặp

  1. Hàm lượng vốn lưu động tại Công ty Xây dựng Trường Xuân phản ánh thực trạng gì? Chỉ số hàm lượng vốn lưu động cho biết số vốn cần có để tạo 1 đồng doanh thu. Năm 2020 chỉ số này là 2,96 đồng và năm 2021 là 1,89 đồng, cao gấp gần 6 lần mức bình quân ngành (0,32 đồng). Thực trạng này chứng minh doanh nghiệp đang bị ứ đọng vốn rất lớn tại khâu công nợ, hiệu suất sinh doanh thu của tài sản ngắn hạn rất thấp.

  2. Tại sao số vòng quay vốn lưu động của công ty giảm mạnh trong năm 2020? Trong năm 2020, doanh thu thuần của doanh nghiệp giảm mạnh 61,37% (từ 27.376,18 triệu đồng xuống 10.574,14 triệu đồng), trong khi vốn lưu động bình quân vẫn tăng nhẹ 1,70% (đạt 31.262,8 triệu đồng). Sự lệch pha này khiến vòng quay vốn giảm sâu từ 0,89 vòng xuống 0,34 vòng, kéo dài chu kỳ luân chuyển lên 1.059 ngày.

  3. Điểm nghẽn lớn nhất trong cơ cấu vốn lưu động của doanh nghiệp nằm ở đâu? Điểm nghẽn lớn nhất là khoản phải thu ngắn hạn khi liên tục chiếm từ 63,14% đến 67,59% tổng vốn lưu động (đạt 20.846,5 triệu đồng năm 2021), cao gấp 1,5 lần bình quân ngành. Ngược lại, hàng tồn kho được quản lý tốt ở mức 24,56% (7.788,3 triệu đồng), chỉ bằng phân nửa mức trung bình ngành (50%).

  4. Hệ số nợ 88% ảnh hưởng thế nào đến sự an toàn tài chính của doanh nghiệp? Hệ số nợ 88% phản ánh tổng nợ phải trả lên tới 28.225,0 triệu đồng, trong khi vốn chủ sở hữu chỉ đạt 4.002,1 triệu đồng (chiếm 12%). Sự phụ thuộc quá mức vào vốn vay và vốn chiếm dụng khiến doanh nghiệp đối mặt với rủi ro mất khả năng thanh khoản nghiêm trọng khi thị trường tín dụng siết chặt hạn mức.

  5. Tính khả thi của các giải pháp nâng cao hiệu quả vốn lưu động được đảm bảo như thế nào? Các giải pháp được xây dựng trực tiếp từ dữ liệu thực chứng 2019 - 2021. Việc tập trung xử lý khoản phải thu (chiếm 65,73% VLĐ), kết hợp khai thác dòng tiền từ đầu tư tài chính ngắn hạn (đạt 1.699,0 triệu đồng năm 2021) hoàn toàn nằm trong quyền kiểm soát nội bộ, giúp đưa vòng quay vốn đạt 1,5 - 2,0 vòng trước năm 2025.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản trị vốn lưu động và bộ chỉ tiêu đánh giá tốc độ luân chuyển dòng tiền trong doanh nghiệp xây dựng.
  • Phân tích thực trạng tài chính Trường Xuân giai đoạn 2019 - 2021 với quy mô vốn lưu động 31.714,3 triệu đồng, xác định điểm nghẽn cốt lõi ở khoản nợ phải thu (chiếm 65,73%).
  • Bóc tách nghịch lý tài chính khi lợi nhuận sau thuế tăng đều từ 585,05 lên 988,90 triệu đồng nhưng vòng quay vốn lưu động chỉ đạt 0,53 vòng/năm (thấp hơn nhiều so với chuẩn ngành 3,16 vòng).
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp tài chính đồng bộ nhằm hạ hàm lượng vốn lưu động từ 1,89 đồng xuống dưới 0,80 đồng và nâng vòng quay vốn lên 1,5 - 2,0 vòng/năm vào năm 2025.
  • Đóng góp hệ thống khuyến nghị thực tế gửi đến các cơ quan quản lý Nhà nước, tổ chức tín dụng và ngành chủ quản nhằm hoàn thiện cơ chế thanh quyết toán vốn đầu tư xây dựng.

Kế hoạch hành động tiếp theo yêu cầu doanh nghiệp tiến hành rà soát, phân loại toàn bộ danh mục công nợ quá hạn ngay trong quý 1/2023 và tái cơ cấu kỳ hạn nguồn vốn nợ vay trong giai đoạn 2023 - 2025. Các nhà quản trị tài chính và nhà nghiên cứu có thể ứng dụng trực tiếp mô hình phân tích cùng khung giải pháp của luận văn để nâng cao năng lực cạnh tranh và tối ưu hóa hiệu quả đồng vốn cho doanh nghiệp xây dựng.