CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Bản chất và vai trò của việc nâng cao hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp 1.1 Bản chất hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp 1. Khái niệm lao động và hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp a, Khái niệm về lao động Theo giáo trình tổ chức lao động khoa học- đại học kinh tế quốc dân: “ Lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực. Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người, là quá trình sức lao động tác động lên đối tượng lao động thông qua tư liệu sản xuất nhằm tạo lên những vật phẩm, những sản phẩm theo mong muốn. Vì vậy, lao động là điều kiện cơ bản quan trọng nhất trong sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người’’.
Theo giáo trình quản trị Kinh tế lao động nêu rõ: Quá trình lao động là quá trình kết hợp giữa ba yếu tố của sản xuất, đó là: Sức lao động- đối tượng lao động- tư liệu sản xuất. Mác định nghĩa sức lao động là toàn bộ những năng lực thể chất, trí tuệ và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị thặng dư nào đó. Sức lao động là khả năng lao động của con người, là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình sản xuất và là lực lượng sản xuất sáng tạo chủ yếu của xã hội. Nhưng sức lao động mới chỉ là khả năng lao động, còn lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực.
Trong quá trình lao động con người vận dụng sức tiềm tàng của mình, sử dụng công cụ lao động để tác động vào giới tự nhiên, chiếm lấy những vật chất tự nhiên, biến đổi vật chất đó, làm cho chúng có ích cho đời sống của mình. Vì thế lao động là hoạt động đặc trưng nhất, là hoạt động sáng tạo của con người, là điều kiện không thể thiếu được của đời sống con người, là một sự tất yếu, là môi giới trong sự trao đổi vật chất giữa con người với tự nhiên. Nguồn lao động là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động ( theo quy định của nhà nước: Nam từ 15-60 tuổi và nữ từ 15-55 tuổi). b, Khái niệm hiệu quả sử dụng lao động Khái niệm về hiệu quả 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo giáo trình kinh tế doanh nghiệp thương mại: Hiệu quả là mối tương quan so sánh giữa kết quả đạt được theo mục tiêu đã được xác định với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Để hoạt động, doanh nghiệp thương mại phải có các mục tiêu hành động của mình trong từng thời kỳ, đó có thể là các mục tiêu xã hội, cũng có thể là các mục tiêu kinh tế của chủ doanh nghiệp và doanh nghiệp luôn tìm cách để đạt các mục tiêu đó với chi phí thấp nhất. Đó là hiệu quả. Hiệu quả của doanh nghiệp bao gồm hai bộ phận: Hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế. + Hiệu quả xã hội: Là đại lượng phản ánh mức độ thực hiện các mục tiêu xã hội của doanh nghiệp hoặc mức độ ảnh hưởng của các kết quả đạt được của doanh nghiệp đến xã hội và môi trường.
+ Hiệu quả kinh tế: Là hiệu quả chỉ xét trên phương diện kinh tế của hoạt động kinh doanh. Nó mô tả mối quan hệ tương quan giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được lợi ích đó. Tóm lại, hiệu quả kinh tế là một phạm trù khách quan, phản ánh trình độ và năng lực quản lý, đảm bảo thực hiện có kết quả cao những nhiệm vụ kinh tế xã hội đặt ra trong từng thời kỳ với chi phí nhỏ nhất. Hiệu quả kinh tế cũng là mối quan tâm hàng đầu và doanh nghiệp và chủ doanh nghiệp.
Khái niệm sử dụng lao động Sử dụng lao động chính là quá trình vận dụng sức lao động để tạo ra sản phẩm theo các mục tiêu sản xuất kinh doanh. Làm thế nào để sử dụng lao động có hiệu quả là câu hỏi thường trực của những nhà quản lý và sử dụng lao động. Cho đến nay thì có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả sử dụng lao động. Khái niệm về hiệu quả sử dụng lao động Hiệu quả sử dụng lao động là một bộ phận của hiệu quả kinh tế.
Theo quan điểm của Mac- Lênin: “Hiệu quả sử dụng lao động là sự so sánh kết quả đạt được với chi phí bỏ ra một số lao động ít hơn để đạt được kết quả nhiều hơn”.Mác chỉ rõ bất kỳ một phương thức sản xuất liên hiệp nào cũng cần phải có hiệu quả, đó là nguyên tắc của liên hiệp sản xuất. Mác viết: “Lao động có hiệu quả nó cần có một phương thức sản xuất và nhấn mạnh rằng hiệu quả lao động giữ vai trò quyết định, phát triển sản xuất là để giảm chi phí của con người, tất cả các tiến bộ khoa học đều nhằm đạt được mục tiêu đó. Xuất phát từ quan điểm trên Mác đã vạch ra bản chất của hiệu quả sử dụng lao động là tiết kiệm và mọi sự tiết kiệm suy cho cùng là tiết kiệm thời gian và hơn thế nữa tiết kiệm thời gian không chỉ có những khâu riêng biệt mà tiết kiệm thời gian cho 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com toàn xã hội. Tất cả những điều đó có nghĩa là khi giải quyết bất cứ vấn đề gì, vấn đề thực tiễn với quan điểm hiệu quả trên, chúng ta luôn đứng trước sự lựa chọn các phương án, các tình huống khác nhau với khả năng cho phép chúng ta cần đạt được các phương án tốt nhất với kết quả lớn nhất và chi phí nhỏ nhất về lao động.
Theo quan điểm của F.Taylor thì: “Con người là một công cụ lao động”. Quan điểm này cho rằng: Bản chất con người đa số không làm việc, họ quan tâm quá nhiều đến cái họ kiếm được chứ không phải công việc mà họ làm, ít người muốn và làm được những công việc đòi hỏi tính sáng tạo, độc lập, tự kiểm soát. Vì thế để sử dụng lao động một cách có hiệu quả thì phải đánh giá chính xác thực trạng lao động tại doanh nghiệp mình, phải giám sát và kiểm tra chặt chẽ những người giúp việc, phải phân chia công việc ra từng bộ phận đơn giản lặp đi lặp lại để dễ dàng học được. Con người có thể chịu đựng được công việc rất nặng nhọc, vất vả khi họ được trả lương cao hơn và có thể tuân theo mức sản xuất ấn định.
Theo quan điểm của Nayo cho rằng: “Con người muốn được cư xử như những con người”. Theo ông về bản chất con người là một thành viên trong tập thể, vị trí và thành tựu của tập thể có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với họ hơn là lợi ích cá nhân, họ hành động tình cảm hơn là lý trí , họ muốn cảm thấy có ích và quan trọng, muốn tham gia vào công việc chung và được nhìn nhận như một con người. Vì vậy muốn khích thích lao động, con người làm việc cần thấy nhu cầu của họ quan trọng hơn tiền. Chính vì vậy, người sử dụng lao động phải làm sao để người lao động luôn luôn cảm thấy mình quan trọng và có ích.
Tức là phải tạo ra được bầu không khí tốt hơn, dân chủ hơn và lắng nghe ý kiến của họ. Trong bài tác giả sử dụng theo quan điểm: “Con người là tiềm năng cần được khai thác và làm cho phát triển” cho rằng: Bản chất con người là không phải không muốn làm việc. Họ muốn góp phần thực hiện các mục tiêu, họ có năng lực độc lập sáng tạo. Chính sách quản lý phải động viên khuyến khích con người đem hết sức của họ vào công việc chung, mở rộng quyền độc lập và tự kiểm soát của họ sẽ có lợi cho việc khai thác các tiềm năng quan trọng.
Từ đó ta có thể hiểu khái niệm về hiệu quả sử dụng lao động như sau: + Theo nghĩa hẹp: Hiệu quả sử dụng lao động là kết quả mang lại từ các mô hình, các chính sách quản lý và sử dụng lao động. Kết quả lao động đạt được là doanh thu, lợi nhuận mà doanh nghiệp có thể đạt được từ kinh doanh và việc tổ chức, quản lý lao động, có thể là khả năng tạo việc làm của mỗi doanh nghiệp. + Theo nghĩa rộng: Hiệu quả sử dụng lao động còn bao hàm thêm khả năng sử dụng lao động đúng ngành, đúng nghề, đảm bảo sức khỏe, đảm bảo an toàn cho người lao 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động, là mức độ chấp nhận nghiêm chỉnh kỷ luật lao động, khả năng sáng kiến cải tiến kỹ thuật ở mỗi người lao động, đó là khả năng đảm bảo công bằng cho người lao động. Tóm lại muốn sử dụng lao động có hiệu quả thì người quản lý phải tự biết đánh giá chính xác thực trạng tại doanh nghiệp mình, từ đó có những biện pháp, chính sách đối với người lao động thì mới nâng cao được năng suất lao động, việc sử dụng lao động thực sự có hiệu quả.2 Phương pháp đo lường và biểu thức xác định hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng lao động có thể khái quát tương quan giữa lợi ích kinh tế và chi phí bỏ ra để có được lợi ích đó bằng hai công thức: Một là: Hiệu quả là hiệu số giữa kết quả và chi phí HQ = KQ – CF Trong đó: HQ: Là hiệu quả đạt được trong một kỳ nhất định KQ: Là kết quả đạt được trong thời kỳ đó CF: Chi phí đã bỏ ra để đạt được kết quả Đây là hiệu quả tuyệt đối, mục đích so sánh ở đây là để thấy được mức chênh lệch giữa kết quả và chi phí, mức chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả càng cao.
Cách so sánh này có ưu điểm là đơn giản tính toán nhưng có nhiều nhược điểm rất cơ bản: - Không cho phép đánh giá chất lượng sử dụng lao động của doanh nghiệp. - Không có khả năng so sánh hiệu quả giữa các thời kỳ, giữa các doanh nghiệp với nhau. - Không phản ánh được năng lực tiềm năng để nâng cao hiệu quả. - Dễ đồng nhất hai phạm trù hiệu quả và kết quả Hai là: Hiệu quả là tỷ lệ so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Đây là hiệu quả tương đối.