CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LAO ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG CÔNG TY 1. Lao động và quản lý lao động trong Công ty 1. Một số lý luận về lao động trong Công ty 1. Khái niệm lao động trong Công ty Khái niệm về nguồn nhân lực hay nguồn lực lao động là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu về con người, trên cơ sở xem xét người lao động là động lực, là trụ cột tạo nên các nền kinh tế tăng trưởng nhanh, bền vững.
Đã có rất nhiều định nghĩa về nguồn lực LĐ, trong đó khái niệm do Liên Hợp Quốc đưa ra được thừa nhận rộng rãi nhất. Theo Liên Hợp Quốc (2011): “Nguồn lực lao động là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng”. Theo David Begg, Stanley Fischer và Rudiger Dornbush (2008): “Nguồn nhân lựa là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con người tích lũy được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai. Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương lai".
Mặt khác, theo Tổ chức Lao động quốc tế ILO, nguồn nhân lực của một quốc gia được hiểu là toàn bộ những người lao động trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Khái niệm này lại đánh giá về NNL trên cơ sở quy mô và tiềm lực trong quá trình lao động sáng tạo. Theo những định nghĩa trên, nguồn lực lao động không chỉ được xem xét độc lập ở khía cạnh số lượng, quy mô hay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội tại một thời điểm nhất định. Lao động trong các doanh nghiệp thương mại là một bộ phận của nguồn lực lao động xã hội được hình thành trong quá trình phân công lao động.
Theo đó, nguồn lực này cũng bao gồm có thể lực và trí lực của toàn bộ cán bộ, nhân viên trong tổ chức đó đặt trong mối quan hệ phối kết hợp các nguồn lực riêng của mỗi người, sự bổ trợ những khác biệt trong nguồn lực của mỗi cá nhân thành nguồn lực của tổ chức. Mai Thanh Lan (2016), Giáo trình Quản trị nhân lực căn bản của trường Đại học Thương mại, trang 15, nguồn nhân lực trong doanh nghiệp được 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiểu là: “Nhân lực trong tổ chức/doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ những người làm việc trong tổ chức/doanh nghiệp được trả công, khai thác và sử dụng có hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức/doanh nghiệp 1. Vai trò của lao động trong Công ty Nguồn nhân lực có ý nghĩa quyết định không chỉ đối với doanh nghiệp nói riêng mà còn đói với các ngành nghề nói chung cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Cùng với các nguồn lực vật chất, tài chính, nguồn lực lao động tạo tiềm năng nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh kinh tế và quốc tế thành công.
Lao động tham gia vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, thông qua quá trình lao động sáng tạo của mình tạo ra của cải vật chất cho doanh nghiệp cũng như xã hội. Mặt khác, NNL còn được xem là có vị trí chủ đạo, có yếu tố quyết định tính hiệu quả trong việc khai thác và sử dụng các nguồn lực khác như khoa học công nghệ, vốn,. Do đó, nguồn lao động có trình độ cao, cơ cấu hợp lý sẽ góp phần tạo nên một doanh nghiệp phát triển vững mạnh. Lực lượng LĐ là yếu tố năng động nhất, quyết định chất lượng hoạch định các chính sách, khả năng phối hợp các yếu tố trong mọi quá trình hoạt động kinh tế.
Mặt khác, mọi doanh nghiệp đều được cấu thành nên bởi các cá nhân. Do vậy, để hoạt động hiệu quả, nâng cao năng lực cạnh tranh so với các doanh nghiệp trong nước cũng như quốc tế, các doanh nghiệp cần phải có công tác quản lý sử dụng, khai thác và phát huy tiềm năng của đội ngũ cán bộ, LĐ của doanh nghiệp hiệu quả và khoa học. Lực lượng lao động trong công ty phải có trình độ chuyên môn nghiêp vụ cao, được đào tạo cơ bản, có đạo đức, phẩm chất, văn hóa, đặc biệt là kỷ luật cao trong công việc. Phân loại lao động Phân loại lao động trong Công ty không chỉ cung cấp một cái nhìn tổng quan về số lượng và cơ cấu lao động của Công ty mà còn phục vụ đắc lực cho việc quy hoạch lao động, phục vụ trực tiếp cho công tác quản lý lao động và cho việc tính toán, lập dự toán chi phí lao động.
Căn cứ vào vai trò và tác dụng của LĐ đến quá trình sản xuất kinh doanh, LĐ của doanh nghiệp được chia thành hai loại: lao động trực tiếp và lao động gián tiếp. Lao động trực tiếp là bộ phận LĐ tham gia trực tiếp vào các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm hay trực tiếp thực hiện các công việc dịch vụ nhất định. Bao gồm nhân viên bán hàng, mua hàng, nhân viên kho, vận chuyển, nhân viên tiếp thị; nhân viên quản trị kinh doanh,. Bộ phận LĐ trực tiếp chiếm tỷ trọng cao và 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giữ các vị trí chủ chốt, thực hiện các chức năng, nhiệm vụ xác định của các doanh nghiệp.
Lao động gián tiếp là bộ phận thực hiện việc chỉ đạo, phục vụ và quản lý kinh doanh trong doanh nghiệp. Bao gồm: Nhân viên kỹ thuật, nhân viên quản lý hành chính, nhân viên quản lý kinh tế, kế toán, thống kê, nhân viên bảo vệ của doanh nghiệp. Nội dung cơ bản quản lý lao động trong Công ty Theo TS. Mai Thanh Lan (2016), Giáo trình Quản trị nhân lực căn bản của trường Đại học Thương mại, quản lý lao động trong doanh nghiệp theo tiếp cận tác nghiệp bao gồm các nội dung cơ bản sau: tuyển dụng nhân lực, bố trí và sử dụng nhân lực, đào tạo và phát triển nhân lực, đánh giá thực hiện công việc, đãi ngộ nhân lực và một số nội dung khác.
Các nội dung này có mối quan hệ biện chứng với nhau. Tuyển dụng lao động Tuyển dụng nhân lực là quá trình tìm kiếm, thu hút và lựa chọn nhân lực nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng và bổ sung lực lượng lao động cần thiết để thực hiện các mục tiêu đã xác định của công ty. Vì vậy, tuyển dụng nhân lực là hoạt động được thực hiện định kỳ hoặc đột xuất khi nhân sự của công ty có sự biến động để đảm bảo đáp ứng kịp thời, liên tục về số lượng và chất lượng nhân sự nhằm thực hiện các kế hoạch dài hạn và ngắn hạn mà công ty đã đưa ra. Các hoạt động cơ bản của công tác tuyển dụng lao động bao gồm: xác định nhu cầu và xây dựng kế hoạch tuyển dụng nhân lực, tìm kiếm và thu hút nguồn nhân lực, tuyển chọn nhân lực, hội nhập nhân lực mới và đánh giá kết quả tuyển dụng nhân lực.
Bố trí và sử dụng nhân lực Bố trí và sử dụng lao động được hiểu là quá trình sắp xếp người lao động vào các vị trí, nhiệm vụ phù hợp với khả năng của họ, từ đó khai thác và phát huy tối đa năng lực làm việc của nhân lực nhằm đạt hiệu quả cao trong công việc. Bố trí và sử dụng nhân lực mang tính ổn định, linh hoạt và phải đảm bảo các yêu cầu sau: đủ số lượng và chất lượng nhân lực; đảm bảo sự phù hợp giữa vị trí phân công với đặc điểm, khả năng của NLĐ; đảm bảo đúng thời hạn. Hoạt động bố trí và sử dụng lao động tại các doanh nghiệp thường được tiến hành theo các bước: xác định mục tiêu của bố trí và sử dụng nhân lực, tiến hành các hoạt động bố trí và sử dụng nhân lực, kiểm soát nhân lực sau bố trí và sử dụng. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bố trí và sử dụng lao động một cách hợp lý sẽ tạo ra sự chuyên môn hóa về nhân sự, chuyên môn hóa về công cụ lao động.
Điều này sẽ tạo điều kiện để nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất. Đào tạo và phát triển nhân lực Đào tạo và phát triển nhân lực là hoạt động nhằm hoàn thiện và nâng cao các kiến thức, kỹ năng, phẩm chất và kinh nghiệm của người lao động để đáp ứng các yêu cầu trong quá trình làm việc ở cả hiện tại và tương lai. Trong đó, đào tạo là một quy trình nhằm nuôi dưỡng việc tích lũy các kinh nghiệm nghề nghiệp, kỹ năng hay thái độ làm việc của NLĐ nhằm tạo nên sự hài hòa giữa đặc điểm của nguồn nhân lực với các yêu cầu của vị trí mà họ đảm nhận. Phát triển là một quá trình lâu dài nâng cao năng lực của NLĐ để có thể đáp ứng được yêu cầu của công việc khi có sự thay đổi trong tương lai.
Quy trình đào tạo và phát triển nhân lực bao gồm các bước sau: xác định nhu cầu, xây dựng kế hoạch, triển khai thực hiện và đánh giá kết quả đào tạo và phát triển nhân lực. Một số phương pháp đào tạo và phát triển nhân lực thông dụng được các doanh nghiệp sử dụng: Đào tạo tại chỗ (hình thức đào tạo gắn liền với công việc), đào tạo tách rời công việc. Nhân lực là động lực của quá trình đổi mới và sáng tạo. Do vậy, đào tạo và phát triể nhân lực là chìa khóa để các doanh nghiệp có được đội ngũ nhân lực có chất lượng đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra hiệu quả.
Đánh giá thực hiện công việc Đánh giá thực hiện công việc là quá trình thu nhận và xử lý thông tin về quá trình và kết quả thực hiện công việc của nhân lực để doanh nghiệp đưa ra được những đánh giá chính xác về mức độ hoàn thành công việc của người lao động so với tiêu chuẩn công việc đã đề ra của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định. Kết quả đánh giá hoàn thành công việc là cơ sở để các doanh nghiệp hoạch định, lên kế hoạch tuyển chọn nhân sự cũng như đưa ra các quyết định đãi ngộ, đào tạo và phát triển nhân lực một cách đúng đắn và hiệu quả.