MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Hiệu quả kinh doanh là một trong những đích đến quan trọng của tất cả các ngân hàng thương mại. Vấn đề này thể hiện dưới những khía cạnh khác nhau như: hiệu quả kinh doanh dựa trên góc độ tài chính hay góc độ phi tài chính. Đối với vấn đề hiệu quả kinh doanh trên khía cạnh tài chính thường thể hiện qua Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), Tỷ suất sinh lời trên tổng vốn (ROE), Hiệu quả đầu tư (ROI).
Một số khía cạnh khác cũng được đề cập đến trong hiệu quả kinh doanh của các NHTM, ví dụ như nhóm chỉ tiêu an toàn (nợ xấu, tỉ lệ nợ xấu, tỷ lệ nợ có vấn đề, các khoản nợ chia theo cơ cấu ngành, thời gian)… Trong nhóm hiệu quả kinh doanh này, các ngân hàng thường tăng cường ROE hoặc khả năng sinh lời trên 1 cổ phiếu để giúp các nhà đầu tư có thể đầu tư vào chính ngân hàng đó, đồng thời thúc đẩy ngân hàng có những mục tiêu cụ thể để xây dựng chiến lược riêng có của mình. Đây là cách tiếp cận truyền thống, thường được nhiều các nghiên cứu đề cập. Nếu tiếp cận theo góc độ phi tài chính, thường sẽ đánh giá hiệu quả kinh doanh dựa trên những mối quan hệ với khách hàng, bởi đó là nền tảng để hiện thực hóa và đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả tài chính. Cách tiếp cận này mới hơn, và được đưa ra trong khoảng 20 năm trở lại đây, mở ra hướng đi mới về đánh giá hiệu quả kinh doanh của NHTM, đồng thời cũng khơi gợi ra các ý tưởng nghiên cứu mới.
Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam (TCB) có tốc độ tăng trưởng các chỉ tiêu tài chính (ROA, ROE và ROI) đã có mức tăng trưởng tốt trong suốt giai đoạn từ 2010 - 2020, trở thành một định chế tài chính hàng đầu Việt Nam. Tuy nhiên, cũng chính trong giai đoạn này, nợ xấu và chạy đua lãi suất trở thành vấn đề nghiêm trọng cho toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng như cho TCB, do đó, việc giữ chân được khách hàng trở thành 1 chiến lược quan trọng của ban lãnh đạo để nâng cao hiệu quả kinh doanh. Nhận thức được việc này, và với tham vọng lớn trong việc trở thành NHTM số 1 Việt Nam, từ năm 2015, trong chương trình chuyển đổi chiến lược (2015 - 2020), Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam đã lựa chọn chiến lược đặt Khách hàng là trọng tâm, thay thế cho chiến lược Sản phẩm là trọng tâm đã thực hiện trong nhiều năm trước đây. Tuy nhiên, trên thực tế, việc thay đổi tư duy, cách tiếp cận và giải quyết vấn đề từ sản phẩm là trọng tâm sang khách hàng là trọng tâm không thể thực hiện một sớm một chiều.
Đó là cả quá trình thay đổi nhận thức, nâng cao năng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 lực cán bộ, cùng với việc thay đổi phương pháp làm việc, qua đó mới có thể thực sự nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng một cách bền vững. Từ những phân tích trên, việc nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài: “Hiệu quả kinh doanh tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam” làm luận án tiến sĩ là thực sự cần thiết, có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn. Đề tài này sẽ đánh giá dựa trên 2 khía cạnh: các chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính. Ngoài ra, luận án cũng tập trung đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng dựa trên nhóm dữ liệu sơ cấp.
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 2. Nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài luận án Các nghiên cứu theo hướng đánh giá trên hiệu quả tài chính (1) Bonin và cộng sự (2005): nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh doanh của NHTM dựa trên các khía cạnh ROA, ROE và ROI [47]. Các tác giả cho rằng khi đưa ra những khía cạnh ở trên góc độ tài chính thì cần phân tích xem có những vấn đề gì cùng ảnh hưởng đến các chỉ tiêu tài chính này. Với việc sử dụng các mô hình đi đầu thời bấy giờ như mô hình GMM cho thấy một số nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng như các biến về kinh tế vĩ mô (lạm phát, GDP, tỉ giá, lãi suất) hoặc các biến ở trong ngân hàng như tăng trưởng dư nợ, nợ xấu… Tuy nhiên, vì nghiên cứu ở năm 2005 nên bài viết này trở thành nền tảng cho các nghiên cứu tiếp sau.
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp bao dữ liệu và minh chứng rằng: tùy từng thời kỳ nhưng trong giai đoạn từ 2007 - 2012, các NHTM đã đi theo hướng tập trung cho vay quá rủi ro, tránh né những vấ đề liên quan đến Basel 2. Sang đến giai đoạn sau thì lại quá tập trung vào mức độ an toàn, vì vậy khả năng sinh lời không cao. Nghiên cứu này đánh giá trên các góc độ tài chính, vì vậy cho rằng khi đầu tư vào thị trường tài chính cần thấy được các ngân hàng đang phân bổ vốn như thế nào, và các khoản vốn ấy có những loại rủi dùng để đánh giá. Các tác giả cho thấy rằng khi rủi ro càng cao, thì vấn đề tìm kiếm của ngân hàng với thanh khoản càng lớn, vì vậy cần phải đưa ra một chiến lược phát triển chung trên góc độ đảm bảo an toàn và sinh lời.
Chỉ khi có đảm bảo an toàn và sinh lời thì mới có LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 khả năng đảm bảo cho sự phát triển minh bạch của thị trường tài chính. Một trong những vấn đề khác mà nghiên cứu này đề cập là vấn đề quy định của ngân hàng trung ương trên thị trường: chỉ khi ngân hàng trung ương có những đánh giá đúng và đủ về mức độ đủ vốn của các NHTM dựa trên Basel 3 thì các NHTM mới có thể đảm bảo được thanh khoản, và từ đó đi theo ý tưởng phát triển các chỉ tiêu tài chính. Việc này được cho là ảnh hưởng của thanh khoản và các nguồn vốn mà ngân hàng có thể tự huy động được trong tương lai. Ngoài ra, khả năng sinh lời được đánh giá là ROA và ROE bị tác động bởi các chính sách của nhà nước.
Nguyên nhân của vấn đề này, theo các tác giả, là khi nhà nước can thiệp vào thị trường tài chính thì có ảnh hưởng đến lãi suất trên thị trường liên ngân hàng, và khi đó, việc khuyến khích các NHTM vay nhiều hơn (do lãi suất thực âm), đồng thời có sự bảo vệ của bảo hiểm tiền gửi đã tác động làm cho các ngân hàng có nền tảng để đầu tư vào vấn đề rủi ro. Trong số này, các tác giả tập trung vào nhóm chỉ tiêu hiệu quả dựa trên phân loại nợ theo nhóm nợ và phân loại theo ngành. Kết luận cho thấy, khả năng sinh lời của ngân hàng thuộc khu vực MENA bị ảnh hưởng bởi phân nhóm nợ theo ngành: nếu tập trung vào 1 hoặc một số ngành thì khả năng sinh lời sẽ giảm đi, và vì thế, trong dài hạn, hiệu quả tài chính của ngân hàng sẽ giảm xuống. Một nghiên cứu tương tự là Athanasoglou và cộng sự (2008) cũng cho thấy: khi các ngân hàng tập trung vào những nhóm ngành có khả năng sinh lời cao trong thời điểm hiện tại (ví dụ như nhóm ngành bất động sản xây dựng) thì trong tương lai sẽ làm nợ xấu tăng lên, dẫn đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng giảm [42].
(6) Trong số các chỉ tiêu an toàn, ngoài nợ xấu và nợ quá hạn; một số các nghiên cứu khác cũng tập trung đánh giá dự phòng của các khoản nợ và CAR của ngân hàng. Ví dụ, Rehman & Ahmed (2008) cho rằng khi CAR càng cao thì tức là các ngân hàng càng an toàn, và do đó càng thu hút được nhiều tiền gửi từ phía khách hàng [73]. Điều này làm cho 1 số các ngân hàng ở Pakistan có khả năng hoạt động tốt hơn các ngân hàng khác. Nhưng ngược lại, Sufian và cộng sự (2008) khi nghiên cứu ở Philippine lại cho rằng các ngân hàng có CAR cao chưa chắc đã có hiệu quả kinh doanh tốt, thể hiện ở việc nhiều ngân hàng tại nước này có CAR trên 14% vẫn sụp đổ.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Từ đó, Zhang & Zheng (2020b) tiếp cận hiệu quả của toàn hệ thống NHTM dựa trên giám sát của các ngân hàng trung ương. Một góc nhìn khác đối với hiệu quả kinh doanh mà Khan và cộng sự (2018) đưa ra ở khu vực Đông Nam Á vào năm 2018 [65]; Duan & Niu (2020) đưa ra ở khu vực Nam Mỹ vào năm 2020 [56]: liệu rằng đánh giá hiệu quả kinh doanh dựa vào các chỉ tiêu tài chính, mà chủ yếu là khả năng sinh lời (ROA, ROE, ROI…), các chỉ tiêu an toàn (tỷ lệ nợ xấu, CAR, phân bổ nợ…) liệu có phải là chỉ tiêu tốt? Trong dài hạn, nhiều ngân hàng vẫn sụp đổ hoặc khả năng sinh lời giảm dù các chỉ tiêu an toàn vẫn tốt? Đặc biệt, các bằng chứng thực nghiệm từ sau năm 2020 cho thấy: dịch bệnh ảnh hưởng nhiều đến các ngân hàng, nên liệu muốn phát triển hiệu quả kinh doanh dựa vào chỉ tiêu tài chính có còn đúng? Điều này làm ra đời nhóm nghiên cứu đánh giá dựa trên hiệu quả phi tài chính. Các nghiên cứu theo hướng đánh giá trên hiệu quả phi tài chính Các nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh của NHTM cho rằng: hiệu quả kinh doanh không chỉ dựa trên hiệu quả tài chính mà còn dựa trên các nền tảng về khách hàng. Do đó, đây là một hướng nghiên cứu độc lập, được phát triển trong những năm trở lại đây, có thể kể đến như (7) Fader (2020) phát triển ý tưởng: hiệu quả kinh doanh của ngân hàng không chỉ dựa vào ROA, ROE mà còn phải thiết kế được các sản phẩm theo hướng có lợi cho việc sử dụng của ngân hàng [58].
Tác giả đã nghiên cứu các hạn chế của việc đặt sản phẩm là trọng tâm, đưa ra cơ hội khi đặt khách hàng là trọng tâm nhằm tối đa hóa giá trị cho khách hàng, qua đó nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp.