Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại 1. Khái quát về ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại đã hình thành, tồn tại và phát triển với sự phát triển của kinh tế hàng hoá.
Sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao của nó - kinh tế thị trường - thì ngân hàng thương mại cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được.TS Phan Thị Cúc cho rằng: “Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, là một tổ chức tín dụng thực hiện huy động vốn nhàn rỗi từ các chủ thể nền kinh tế để tạo lập nguồn vốn tín dụng và cho vay phát triển kinh tế, tiêu dùng cho xã hội” [Phan Thị Cúc, tr 11]. Theo Luật các tổ chức tín dụng: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật nhằm mục tiêu lợi nhuận” [Luật các tổ chức tín dụng, Luật số 47/2010/QH12]. Phan Thị Thu Hà (2013) đã viết “Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung ứng một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh trong nền kinh tế” [Phan Thị Thu Hà, tr 7]. Ở Mỹ: “Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính” [Bách khoa toàn thư mở] Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài download by : skknchat@gmail.com 6 nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính” [[Bách khoa toàn thư mở].
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán. Như vậy ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế. Phân loại ngân hàng thương mại a) Căn cứ vào chủ thể sở hữu Căn cứ vào chủ thể sở hữu người ta chia các ngân hàng thành hai nhóm đó là các ngân hàng thuộc sở hữu của chính phủ (sở hữu nhà nước) và các ngân hàng không thuộc sở hữu Nhà nước.
- Ngân hàng thương mại thuộc sở hữu Nhà nước là các ngân hàng được thành lập bằng tiền của chính phủ. Thông qua việc điều hành hoạt động của ngân hàng, Chính phủ tác động tới các hoạt động của nền kinh tế. Ngoài ra, vì mục tiêu thực hiện vai trò điều chỉnh, vai trò can thiệp của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, Chính phủ có thể thành lập những ngân hàng đặc biệt hỗ trợ cho việc thực hiện các chương trình mục tiêu của mình như ngân hàng để thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo,ngân hàng để thực hiện chiến lược phát triển một ngành hay lĩnh vực kinh tế quan trọng nào đối với nền kinh tế. - Ngân hàng thương mại không thuộc sở hữu Nhà nước.
Các ngân hàng này thường thuộc sở hữu của một nhóm cổ đông - đối với các ngân hàng cổ phần, hoặc tùy xuất xứ của ngân hàng như ngân hàng liên doanh - do các bên liên doanh góp vốn; chi nhánh ngân hàng nước ngoài - do ngân hàng chính quốc tài trợ. Các ngân hàng này hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận. Trong chừng mực nhất định và theo quy định của Chính phủ, các ngân hàng này cũng thực hiện các hoạt động như một ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước. Ví dụ, cho vay theo đối tượng chỉ định, hoặc "góp vốn" đối với các ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước.
download by : skknchat@gmail.com 7 b) Căn cứ vào mục tiêu hoạt động Căn cứ vào mục tiêu hoạt động, NHTM có thể phân loại thành Ngân hàng tiền gửi (hay ký khác), Ngân hàng tiết kiệm, Ngân hàng kinh doanh. - Ngân hàng tiền gửi (hay ký khác), Ngân hàng tiết kiệm: là những NHTM chỉ hoạt động chủ yếu là thu hút tiền gửi dân cư và cho vay ngắn hạn các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế vừa và nhỏ hoặc các nhu cầu tín dụng khác của dân cư. - Ngân hàng kinh doanh: Là những loại ngân hàng lớn, thường là ngân hàng chuyên doanh hoặc là các NHTM kinh doanh tổng hợp. Các ngân hàng này hoạt động chủ yếu nhằm vào các dự án tín dụng lớn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn hoặc hùn vốn, đầu tư vào các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế đổi mới kỹ thuật, hiện đại hóa thiết bị và dây chuyền công nghệ hoặc xây dựng mới, mở rộng doanh nghiệp.
Nguồn lợi nhuận thu về lớn và rủi ro được phân tán qua các ngân hàng hoặc các tổ chức chuyên doanh khác. Ngày nay loại ngân hàng này thường có một số công ty chuyên doanh như công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty chứng khoán, công ty tư vấn về đầu tư và tài chính, công ty vàng bạc, công ty tín thác. hoặc kết hợp một số ngân hàng trong nước hay ngân hàng nước ngoài hình thành ngân hàng lớn có vốn cổ phần nước ngoài hoặc của các ngân hàng, công ty tài chính trong nước hoặc tập đoàn ngân hàng. Tuy nhiên, tại một số nước, các ngân hàng kinh doanh cỡ vừa và nhỏ vẫn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số ngân hàng và chuyển thành NHTM đa năng khu vực, địa phương.
c) Căn cứ vào ngành hoặc lĩnh vực kinh tế Ngân hàng công nghiệp, Ngân hàng ngoại thương (hoặc ngân hàng xuất nhập khẩu); Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn.;Ngân hàng đầu tư và phát triển; Ngân hàng nhà ở và phúc lợi công cộng;… d) Căn cứ vào cơ cấu tổ chức Ngân hàng sở hữu công ty: Ngân hàng thường sở hữu các công ty như chứng khoán, mua bán nợ, bảo hiểm,… Do luật nhiều nước cấm hoặc hạn chế ngân hàng tham gia trực tiếp vào một số loại hình kinh doanh như chứng khoán, bất động sản, cho thuê tài chính,… nên các ngân hàng lớn đã thành lập, hoặc mua lại công ty hoạt động trong lĩnh vực trên nhằm mở rộng hoạt động. Các ngân hàng cũng thường liên download by : skknchat@gmail.com 8 kết sở hữu các công ty chuyển mạch, công ty thẻ, viễn thông,… nhằm cung cấp công nghệ cao cho hoạt động ngân hàng. Ngân hàng thuộc sở hữu công ty: Nhiều tập đoàn kinh tế/tập đoàn tài chính thành lập ngân hàng để đa dạng và hỗ trợ các hoạt động của tập đoàn. Ngân hàng có thể là sở hữu của các tập đoàn công nghiệp (ngân hàng công nghiệp), hoặc năng lượng, thương mại… Ngân hàng đơn nhất:Ngân hàng đơn nhất là ngân hàng không có chi nhánh, tức là các dịch vụ ngân hàng chỉ do 1 hội sở ngân hàng cung cấp.
Ngân hàng có chi nhánh: Là ngân hàng cung cấp dịch vụ ngân hàng thông qua nhiều đơn vị ngân hàng. Việc thành lập chi nhánh thường bị kiểm soát chặt chẽ bởi ngân hàng trung ương thông qua các quy định về mức vốn sở hữu, về chuyên môn của đội ngũ cán bộ, về sự cần thiết của dịch vụ ngân hàng trong vùng. e) Căn cứ theo nội dung nghiệp vụ và thực tiễn hoạt động Hiện nay người ta phân loại ngân hàng căn cứ theo nội dung nghiệp vụ và thực tiễn hoạt động ngân hàng, nên việc phân loại ngân hàng mang tính chất tổng quát hơn và có tính thuyết phục hơn. NHTM được phân loại theo hai tiêu thức là: ngân hàng chuyên doanh và ngân hàng kinh doanh tổng hợp (đa năng).
- Ngân hàng hoạt động theo hướng chuyên doanh: Loại ngân hàng này chỉ tập trung cung cấp một số dịch vụ ngân hàng ví dụ như chỉ cho vay đối với xây dựng cơ bản , hoặc đối với nông nghiệp; hoặc chỉ cho vay (không bảo lãnh hoặc cho thuê)… Tính chuyên môn hóa cao cho phép ngân hàng có được đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm, tinh thông nghiệp vụ. Tuy nhiên, loại ngân hàng này thường gặp rủi ro lớn khi ngành hoặc lĩnh vực hoạt động mà ngân hàng phục vụ sa sút. Ngân hàng đơn năng có thể là ngân hàng nhỏ, phạm vi hoạt động hẹp, trình độ cán bộ không đa dạng, hoặc là những ngân hàng sở hữu của công ty (nhiều tập đoàn công nghiệp tổ chức ngân hàng để phục vụ cho các thành viên của tập đoàn). Ngân hàng đa năng: là ngân hàng cung cấp mọi dịch vụ ngân hàng cho mọi đối tượng.
Đây là xu hướng hoạt động chủ yếu hiện nay của các ngân hàng thương mại. Ngân hàng đa năng thường là ngân hàng lớn (hoặc sở hữu công ty). Chức năng của ngân hàng thương mại download by : skknchat@gmail.com 9 Chức năng trung gian tài chính là chức năng quan trọng và cơ bản nhất của một NHTM, chức năng này không những cho thấy bản chất của NHTM mà còn cho thấy nhiệm vụ chính yếu của NHTM. Trong chức năng này - NHTM đóng vai trò là người trung gian đứng ra tập trung, huy động nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế (bao gồm tiền tiết kiệm của các tầng lớp dân cư, vốn bằng tiền của các đơn vị, tổ chức kinh tế.) biến nó thành nguồn vốn tín dụng để cho vay (cấp tín dụng) đáp ứng các nhu cầu vốn kinh doanh và vốn đầu tư cho các ngành kinh tế và nhu cầu vốn tiêu dùng của xã hội.
Thông qua chức năng này, nhờ nguồn vốn lớn và luân chuyển liên tục sẽ góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển. Chức năng trung gian thanh toán và cung ứng phương tiện thanh toán là chức năng quan trọng, không những thể hiện khá rõ bản chất của NHTM mà còn cho thấy tính chất “đặc biệt” trong hoạt động của NHTM.