Chương 1. Nội dung chương giới thiệu về lý do chọn đề tài, phương pháp nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu, đóng góp của đề tài. Nội dung chương đưa ra khung lý thuyết nghiên cứu, và một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT thuộc chi nhánh khác. Tập trung phân tích thực trạng hoạt động tín dụng của Ngân hàng, từ đó nhìn nhận được những kết quả đạt được, tồn tại vướng mắc.
Bên cạnh đó, tác giả khảo sát thu thập thông tin từ phía nhân viên Ngân hàng và đưa ra một số nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Đây là cơ sở để đưa ra các giải pháp trong chương 4. Nội dung chương đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng, Cùng một số kiến nghị nhằm giúp hỗ trợ những giải pháp được triển khai có tính thực tiễn, mang lại hiệu quả như mong muốn. 8 CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.
TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 2. Khái niệm tín dụng Ngân hàng.[2] Tín dụng Ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng với các chủ thể khác trong xã hội. Ngân hàng là một định chế tài chính trung gian, do vậy trong quan hệ tín dụng với các chủ thể kinh tế khác Ngân hàng có thể vừa là người đi vay, vừa là người cho vay. - Với tư cách là người đi vay, Ngân hàng huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi của các chủ thể kinh tế, các cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu Ngân hàng.
- Với tư cách là người cho vay, Ngân hàng cấp tín dụng đáp ứng kịp thời vốn cho quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc tiêu dùng của các chủ thể kinh tế, cá nhân từ đó góp phần tích cực thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hóa ngày càng phát triển. Đặc điểm tín dụng Ngân hàng.[5] Tín dụng Ngân hàng có 5 đặc điểm của tín dụng nói chung như sau: Thứ nhất, tín dụng Ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin. Ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi có lòng tin vào việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ vay (gốc, lãi) đúng hạn; còn người đi vay thì tin tưởng vào khả năng kiếm được tiền trong tương lai để trả nợ gốc và lãi vay. Đây là đặc điểm quan trọng nhất, và từ đó tạo ra các đặc điểm tiếp theo.
Do đó, trong các quyết định cho vay, Ngân hàng sắp xếp thứ tự ưu tiên của các tiêu chí như sau: - Tín nhiệm (uy tín, thiện chí) của người vay - Tính khả thi của dự án (phương án kinh doanh) - Bảo đảm tiền vay 9 Thứ hai, tín dụng là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn hay có tính hoàn trả. Ngân hàng là trung gian tài chính “đi vay để cho vay”, nên mọi khoản tín dụng của Ngân hàng đều phải có thời hạn, bảo đảm cho Ngân hàng hoàn trả vốn huy động. Để xác định thời hạn cho vay hợp lý, Ngân hàng phải căn cứ vào tính chất thời hạn nguồn vốn của mình và quá trình luân chuyển vốn của đối tượng vay. Nếu, Ngân hàng có nguồn vốn dài hạn ổn định, thì có thể cấp được nhiều tín dụng dài hạn; ngược lại, nếu nguồn vốn không ổn định và kỳ hạn ngắn, mà cấp nhiều tín dụng dài hạn thì sẽ gặp rủi ro thanh khoản.
Mặt khác, thời hạn cho vay phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay thì người vay mới có điều kiện trả nợ đúng hạn. Nếu Ngân hàng xác định thời hạn vay nhỏ hơn chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay, thì khách hàng không có đủ nguồn để trả nợ khi đến hạn, gây khó khăn cho khách hàng. Ngược lại, nếu thời hạn cho vay lớn hơn chu kỳ luân chuyển vốn sẽ tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích, sẽ tiềm ẩn rủi ro tín dụng cho Ngân hàng. Việc hoàn trả nợ vay thể hiện giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng.
Sau khi vốn tín dụng đã hoàn thành một chu kỳ sản xuất kinh doanh, trở về hình thái tiền tệ thì vốn tín dụng được người đi vay hoàn trả cho người cho vay. Thứ ba, tín dụng phải trên nguyên tắc không chỉ hoàn trả gốc mà phải cả lãi. Nếu không có sự hoàn trả thì không được coi là tín dụng. Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay (giá trị gốc), nghĩa là ngoài việc hoàn trả giá trị gốc, khách hàng phải trả cho Ngân hàng một khoản lãi, đây chính là giá của quyền sử dụng vốn vay.
Khoản lãi phải bù đắp được chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận, phản ánh bản chất hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Thứ tư, tín dụng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho Ngân hàng. Việc đánh giá độ an toàn của hồ sơ vay vốn là rất khó. Vì luôn tồn tại thông tin bất cân xứng dẫn đến lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức.
Ngoài ra, việc thu hồi tín dụng phụ thuộc không những vào bản thân khách hàng, mà còn phụ thuộc vào môi trường hoạt động ngoài tầm kiểm soát của khách hàng như sự biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá, lạm phát, 10 thiên tai… Khi khách hàng gặp khó khăn do môi trường kinh doanh thay đổi, dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ, điều này khiến cho Ngân hàng gặp rủi ro tín dụng. Thứ năm, tín dụng phải trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Quá trình xin vay và cho vay diễn ra trên cơ sở những căn cứ pháp lý chặt chẽ như: Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ, hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh… Trong đó, bên đi vay (và bên bảo lãnh nếu có) phải cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay cho Ngân hàng khi đến hạn. Để hiểu rõ hơn khái niệm tín dụng, ta so sánh với nợ (ví dụ, nợ thuế, nợ lương của doanh nghiệp).
Nợ cũng mang đầy đủ các đặc điểm trên nhưng rộng hơn vì không cần có đặc điểm phải trả lãi. Từ các đặc điểm trên cho thấy, tín dụng Ngân hàng phải bảo đảm được hai nguyên tắc cơ bản sau: + Thứ nhất, vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích + Thứ hai, vốn vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn đã cam kết trong hợp đồng. HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Quan niệm về hiệu quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại.
Theo cuốn “Từ điển tiếng việt thông dụng”, hiệu quả “là kết quả thực của việc làm mang lại” (Hoàng Phê 2009, trang 332). Trong cuốn “ Từ điển kinh tế - tài chính Ngân hàng”, hiệu quả, “Mối quan hệ giữa các yếu tố thu nhập lượng hiếm và sản lượng hàng hóa và dịch vụ. Mối quan hệ này có thể được đo lường theo điều kiện vật chất (hiệu quả công nghệ) hoặc theo điều kiện chi phí (hiệu quả kinh tế). Nhận thức về hiệu quả được sử dụng coi như là một tiêu chuẩn để điều chỉnh thị trường sao cho việc phân phối tài nguyên là có hiệu quả” (PGS.
Lê Văn Tề, 1997, trang 235). 11 Tất cả các hoạt động đều cần có chi phí để nhằm có được những kết quả như mong muốn. Do đó, chúng ta có thể nói hiệu quả là đạt được kết quả cao nhất với chi phí bỏ ra thấp nhất, và cũng là biểu hiện của mối quan hệ tương quan giữa đầu vào với đầu ra của một hoạt động nào đó (đầu ra đạt giá trị cực đại, đầu vào đạt giá trị cực tiểu). Cùng với đó, hiệu quả có nội dung rất rộng và được tiếp cận ở các góc độ khác nhau: góc độ kinh tế, góc độ xã hội và góc độ môi trường.
Nhìn chung, quan niệm về hiệu quả hoạt động tín dụng của NHTM có nhiều khía cạnh khác nhau, tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu mà được xem xét ở khía cạnh nào. Tuy nhiên, trong luận văn này, hiệu quả hoạt động tín dụng của NHTM chỉ giới hạn nghiên cứu ở khía cạnh kinh tế. Đối với lĩnh vực Ngân hàng, quan niệm về hiệu quả hoạt động tín dụng của NHTM là một trong những biểu hiện của hiệu quả kinh tế (Hiệu quả kinh tế, “Một phương diện của sản xuất tìm cách chứng minh đối với mức xuất lượng đã cho, kết hợp với các yếu tố nhập lượng làm tối thiểu hóa chi phí sản xuất để tạo ra sản lượng. Một cách rộng hơn, hiệu quả kinh tế được đặt ngang hàng với hiệu quả phân phối tài nguyên trong nền kinh tế như là toàn bộ sản lượng hàng hóa và dịch vụ đều phản ánh đầy đủ sự ưa thích của khách hàng về hàng hóa và dịch vụ này, cũng như hàng hóa và dịch vụ cá nhân được sản xuất, với chi phí tối thiểu, qua sự hỗn hợp các yếu tố nhập lượng” PGS.
Lê Văn Tề, 1997, trang 218). Từ những phân tích nêu trên, tác giả đã nêu lên được khái niệm chung về hiệu quả hoạt động tín dụng của NHTM như sau: “là kết quả của mối quan hệ tương quan giữa lợi ích thu được mà Ngân hàng có được từ hoạt động tín dụng với chi phí hao tổn mà Ngân hàng đã bỏ ra nhằm thực hiện hoạt động tín dụng ở mức độ rủi ro tối thiểu”. Lợi ích được nêu ở trong khái niệm bao gồm: - Hoàn trả nợ vay cho Ngân hàng, nhằm giúp Ngân hàng thanh toán những khoản tiền gửi; và sau đó, Ngân hàng nhận được lãi suất phù hợp từ việc cấp tín dụng cho khách hàng. 12 - Giúp cho Ngân hàng phát triển các nghiệp vụ phi tín dụng (chuyển tiền, ủy thác, tư vấn về kinh doanh, cho thuê két sắt…), nâng cao uy tín Ngân hàng (vốn huy động tăng, cho vay với những đối tượng là khách hàng lớn).
Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại 2. Yếu tố bên trong Ngân hàng thương mại: * Chính sách tín dụng: Chính sách tín dụng là hệ thống các quan điểm, chủ trương, giải pháp và định hướng chỉ đạo hoạt động tín dụng và đầu tư của Ngân hàng. Chính sách tín dụng của Ngân hàng phải đạt được mục tiêu cân bằng giữa tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro, đảm bảo khả năng tăng trưởng tín dụng và đầu tư an toàn, hiệu quả, đúng định hướng và chiến lược phát triển của Ngân hàng.