phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động doanh nghiệp và doanh nghiệp thẩm định giá Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động Công ty Cổ phần Đầu tư và Thẩm định giá PIV giai đoạn 2011- 2013 Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động Công ty Cổ phần Đầu tư và Thẩm định giá PIV trong thời gian tiếp theo. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP VÀ DOANH NGHIỆP THẨM ĐỊNH GIÁ 1. 1 Doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp thẩm định giá 1.1 Khái niệm doanh nghiệp và doanh nghiệp thẩm định giá Thực tế có rất nhiều quan niệm, các định nghĩa khác nhau về doanh nghiệp, doanh nghiệp thẩm định giá cụ thể: * Doanh nghiệp: - Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” [14]. - Theo tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế 2005: “Doanh nghiệp là một tổ chức thương mại, công nghiệp, dịch vụ hay đầu tư đang theo đuổi một hoạt động kinh tế” [7].
Vậy, doanh nghiệp là đơn vị kinh tế quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội. * Doanh nghiệp thẩm định giá: - Theo quy định tại Điều 3, Nghị định 89 ngày 6/8/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật giá về thẩm định giá thì: “Doanh nghiệp thẩm định giá là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp và được Bộ Tài chính cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá theo quy định của pháp luật” [2]. Để được cấp phép và đi vào hoạt động, doanh nghiệp thẩm định giá phải có tối thiểu 03 thẩm định viên về giá trở lên, trong đó người đại diện theo pháp luật bắt buộc phải là người có thẻ thẩm định viên về giá do Bộ Tài chính cấp.Seabrooke - Viện Đại học Portsmouth, Vương quốc Anh thì: “Thẩm định giá là sự ước tính về giá trị của các quyền sở hữu tài sản cụ thể bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích đã được xác định”, còn theo quan điểm của Giáo sư Lim Lan Yuan - Trường Xây dựng và Bất động sản Singafore thì: “Thẩm định giá là một 7 nghệ thuật hay khoa học về ước tính giá trị cho một mục đích cụ thể của một tài sản cụ thể tại một thời điểm, có cân nhắc đến tất cả những đặc điểm của tài sản cũng như xem xét tất cả các yếu tố kinh tế căn bản của thị trường, bao gồm các loại đầu tư lựa chọn”[7, tr. Nhìn chung, Thẩm định giá là việc đánh giá hoặc đánh giá lại giá trị của tài sản phù hợp với thị trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định theo tiêu chuẩn của Việt Nam hoặc thông lệ quốc tế nhằm các mục đích cụ thể như: xác định giá trị tài sản mua sắm từ nguồn vốn Nhà nước; xác định giá trị tài sản để góp vốn, cổ phần hóa doanh nghiệp, thế chấp, mua bán, chuyển nhượng tài sản, tài sản trong việc thi hành án…[7, tr.15-16] Vì vậy, việc xác định đúng các giá trị của các nguồn lực, từng loại hình tài sản thuộc nguồn lực này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quản lý, sử dụng tài sản, có thể coi thẩm định giá là một trong những công cụ góp phần để cơ chế thị trường tự động phân bổ tối ưu các nguồn lực và nền kinh tế đạt hiệu quả Pareto đồng thời nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp, của nền kinh tế, hạn chế thất thoát ngân sách, tiêu cực, nâng cao khả năng cạnh tranh, minh bạch hóa thị trường… Số lượng doanh nghiệp và thẩm định viên tăng qua các năm, cụ thể như sau: Tính đến T9/2013, cả nước có 706 người được Bộ Tài chính cấp Thẻ thẩm định viên về giá (chưa kể số lượng thí sinh đủ điều kiện cấp Thẻ thẩm định viên về giá sau kỳ thi năm 2013) và có 599 thẩm định viên đăng ký hành nghề thẩm định giá được Bộ Tài chính thông báo có đủ điều kiện hoạt động thẩm định giá.
Số lượng doanh nghiệp thẩm định giá năm 2013 đã tăng thêm 37 doanh nghiệp, đạt tỷ lệ tăng 37,8% so với năm 2012 và tăng 207% so với năm 2009. Giai đoạn 2013-2015 dự kiến cả nước có khoảng 1.400 thẩm định viên về giá đủ điều kiện hành nghề theo quy định và 2015- 2020 số lượng này ở con số 2. Hoạt động thẩm định giá của xã hội tập trung chủ yếu vào các loại tài sản bất động sản, máy móc, thiết bị. Số lượng các hợp đồng thẩm định giá các tài sản nói trên chiếm từ 80-90% tổng số hợp đồng thẩm định giá của các doanh nghiệp; chiếm từ 10- 20% còn lại là các hợp đồng thẩm định giá trị doanh nghiệp, hợp đồng thẩm định các loại tài sản khác như y dụng cụ y tế, hàng may mặc, vật liệu xây dựng, văn phòng phẩm… Giá trị tài sản thẩm định tăng nhanh qua các năm, trong đó năm 2011, giá trị 8 tài sản thẩm định từ nguồn vốn ngân sách nhà nước chiếm 19,8% từ nguồn vốn khác chiếm 80,2% [2,tr.
Doanh thu từ hoạt động thẩm định giá tại các doanh nghiệp thẩm định giá, doanh nghiệp có chức năng thẩm định giá cũng tăng nhanh và đều qua các năm, hoạt động thẩm định giá của các doanh nghiệp trong ba năm gần đây hầu hết có lợi nhuận dương, cho thấy nhu cầu thẩm định giá của xã hội ngày càng lớn. Tuy nhiên việc thành lập của hàng loạt công ty thẩm định giá trong thời gian gần đây đã dẫn đến việc cạnh tranh gay gắt trong ngành dịch vụ này, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp không ngừng đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động.2 Bản chất hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp được đo lường bằng nhiều tiêu chí khác nhau nhưng hiệu quả kinh doanh là thước đo chủ yếu. Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm này như: - Hiệu quả kinh doanh là sự tăng trưởng kinh tế phản ánh nhịp độ tăng của các chỉ tiêu kinh tế. - Hiệu quả kinh doanh là mức độ tiết kiệm chi phí và mức tăng kết quả.
Đây là biểu hiện của bản chất chứ không phải là khái niệm về hiệu quả kinh tế. - Hiệu quả kinh doanh được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra. Quan điểm này được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng và tính hiệu quả kinh tế của các quá trình sản xuất kinh doanh. Từ các khái niệm trên, ta có thể hiểu: Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, vốn và các yếu tố khác) nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh mà doanh nghiệp đã đề ra.
Theo cách hiểu thông thường thì hiệu quả kinh doanh biểu hiện mối tương quan giữa chi phí đầu vào và kết quả đầu ra của một quá trình, nếu gọi H là hiệu quả kinh doanh: H = Kết quả đầu ra – Chi phí đầu vào. Công thức này thể hiện hiệu quả của việc bỏ ra một số vốn để thu được kết quả cao hơn tức là đã có một sự xuất hiện của giá trị gia tăng với điều kiện H1, H càng lớn càng chứng tỏ quá trình đạt hiệu quả càng cao. Để tăng hiệu quả (H) chúng ta có thể 9 sử dụng những biện pháp như: Giảm đầu vào, đầu ra không đổi hoặc giữ đầu vào không đổi, tăng đầu ra hoặc giảm đầu vào, tăng đầu ra… Từ khái niệm về hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế hoạt động kinh doanh nói riêng đã phản ánh hiệu quả kinh tế của hoạt động SXKD là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, vốn…) để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó chính là mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Để hiểu rõ vai trò của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh, ta cũng cần phân biệt giữa hai khái niệm hiệu quả và kết quả của hoạt động kinh doanh.
Kết quả kinh doanh là những gì doanh nghiệp đạt được sau một quá trình kinh doanh nhất định, kết quả đạt được bao giờ cũng là mục tiêu cần thiết của doanh nghiệp. Trong khi đó khái niệm về hiệu quả kinh doanh cần phải sử dụng cả hai chỉ tiêu kết quả và chi phí để đánh giá hiệu quả kinh doanh. Vì thế, yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là phải đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu hay chính xác hơn là đạt kết quả tối đa với chi phí nhất định hoặc ngược lại đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiểu. Chi phí ở đây được hiểu theo nghĩa rộng là chi phí để tạo ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực, đồng thời phải bao gồm cả chi phí cơ hội.
Chi phí cơ hội là giá trị của việc lựa chọn tốt nhất đã bị bỏ qua hay là giá trị của sự hy sinh công việc kinh doanh khác để thực hiện hoạt động kinh doanh này. Chi phí cơ hội phải được bổ sung vào chi phí kết toán và loại ra khỏi lợi nhuận kế toán để thấy rõ lợi ích kinh tế thực sự. Các tính như vậy sẽ khuyến khích các nhà kinh doanh lựa chọn phương án kinh doanh tốt nhất, các sản phẩm, dịch vụ có hiệu quả cao hơn.3 Phân loại hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế tổng hợp được tạo thành bởi tất cả các yếu tố của quá trình SXKD. Nó bao gồm: + Hiệu quả kinh tế (tài chính): có ý nghĩa quyết định, thường được các nhà quản trị quan tâm, nó là thái độ giữ gìn và phát triển nguồn vốn chủ sở hữu.
Một doanh nghiệp có hiệu quả tài chính cao là điều kiện cho doanh nghiệp tăng trưởng.