Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động Công ty Chứng khoán Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động Công ty Trách nhiệm hữu hạn Chứng khoán Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Chứng khoán Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. Công ty chứng khoán 1. Khái niệm và các loại hình CTCK Khái niệm Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các loại chứng khoán, là một bộ phận chủ yếu của thị trường tài chính.Thị trường chứng khoán có vai trò quan trọng đối với quá trình huy động vốn và sử dụng vốn của nền kinh tế thị trường.
Giao dịch trên thị trường chứng khoán hoạt động không phải trực tiếp do những người muốn mua hay bán thực hiện. Việc quy định giao dịch trên thị trường chứng khoán thông qua môi giới sẽ đảm bảo cho các chứng khoán được giao dịch là chứng khoán thực và hợp pháp, đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư, từ đó giúp thị trường hoạt động lành mạnh, đều đặn, công bằng và hiệu quả. Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán, chức năng và quy mô hoạt động giao dịch của các nhà môi giới tăng lên đòi hỏi sự ra đời của các CTCK là sự tập hợp có tổ chức của các nhà môi giới riêng lẻ. Khái niệm về CTCK có thể tiếp cận theo những cách khác nhau, theo giáo trình TTCK, trường Đại học Kinh tế Quốc dân, CTCK “là một định chế tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán”.
Theo giáo trình TTCK, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, CTCK là “một định chế tài chính trung gian chuyên kinh doanh chứng khoán là đơn vị có tư cách pháp nhân, có vốn riêng và hạch toán độc lập”. Theo Quyết định số 01/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13/10/1998 của UBCKNN “CTCK là công ty cổ phần hoặc công ty TNHH thành lập hợp 8 pháp tại Việt Nam, được UBCKNN cấp giấy phép thực hiện một hoặc một số các loại hình kinh doanh chứng khoán”. Theo quyết định số 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính thì CTCK “là tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán”. Như vậy, CTCK được hiểu là một tổ chức tài chính trung gian được thành lập theo pháp luật, thực hiện một và/hoặc một số hoạt động trên TTCK.Sự phát triển của CTCK gắn chặt với sự phát triển của thị trường chứng khoán.Nhiều nền kinh tế coi CTCK là hạt nhân của ngành công nghiệp chứng khoán, thúc đẩy sự phát triển của hệ thống tài chính quốc gia.
* Điều kiện có giấy phép kinh doanh chứng khoán - Có phương án hoạt động kinh doanh phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội và phát triển chứng khoán. - Có đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật cho kinh doanh chứng khoán. - Vốn pháp định đối với các nghiệp vụ kinh doanh của CTCK, CTCK có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh CTCK nước ngoài tại Việt Nam là: + Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng VND + Tự doanh chứng khoán: 100 tỷ đồng VND + Bảo lãnh phát hành chứng khoán: 165 tỷ đồng VND + Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng VND - Giám đốc, phó giám đốc (Tổng giám đốc, phó tổng giám đốc), các nhân viên kinh doanh của CTCK phải đáp ứng đủ điều kiện để được cấp chứng chỉ hành nghề kinh doanh chứng khoán do UBCKNN cấp. - Giấy phép bảo lãnh phát hành chỉ được cấp cho công ty có Giấy phép tự doanh.
9 CTCK là một tổ chức tài chính trung gian hoạt động trên TTCK – một thị trường có mức độ nhạy cảm cao và có ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế. Do vậy, CTCK thuộc loại hình kinh doanh có điều kiện, tức là để có thể tiến hành một hoặc một số các hoạt động trên TTCK, CTCK phải đáp ứng các điều kiện do luật pháp quy định cũng như những nguyên tắc ứng xử riêng có của ngành chứng khoán. Điều kiện này chính là những đặc điểm khác biệt giữa hoạt động của CTCK với hoạt động của các loại hình doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác. Phân loại công ty chứng khoán Phân loại theo tính chất sở hữu Để tiến hành kinh doanh, CTCK được thành lập dưới các hình thái doanh nghiệp khác nhau.Với mỗi loại hình thái của CTCK có những ưu, nhược điểm nhất định.
Loại hình CTCK được thành lập phổ biến trên thế giới gồm: Công ty TNHH, Công ty Cổ phần, Công ty hợp danh. o Công ty hợp danh: Gồm hai hoặc ba người trở lên cùng góp vốn để tiến hành kinh doanh, trong đó phải có ít nhất hai thành viên hợp danh ngoài ra còn có thành viên góp vốn.Thành viên hợp danh phải là cá nhân có trình độ chuyên môn, uy tín nghề nghiệp. Với hình thái doanh nghiệp này, CTCK sẽ có được bộ máy tổ chức gọn nhẹ, do số lượng thành viên ít, mức độ phân quyền có tính ổn định và công ty có độ tin cậy cao vì thành viên hợp danh là những người có trình độ uy tín. Tuy nhiên công ty sẽ bị hạn chế về khả năng huy động vốn vì với hình thái này công ty không được phép phát hành bất cứ chứng khoán nào và thành viên phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của công ty.
Với đặc điểm pháp lý như trên, loại hình công ty hợp danh thường phù hợp với loại hình kinh doanh tư vấn đầu tư vì hoạt động này đòi hỏi nhân viên 10 hành nghề phải có trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp cao. Hơn nữa, do đặc thù của hoạt động tư vấn là tính trách nhiệm cao nên bên cạnh việc đảm bảo trách nhiệm về chất lượng tư vấn còn ràng buộc trách nhiệm vật chất một cách vô hạn. o Công ty Trách nhiệm hữu hạn: Là một doanh nghiệp trong đó gồm từ hai thành viên trở lên cùng tham gia góp vốn, thành viên có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Hình thái này có ưu điểm hơn hình thái hợp danh ở chỗ (1) Các thành viên chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ của công ty trên cơ sở số vốn góp; (2) huy động vốn đơn giản và linh hoạt hơn; (3) đội ngũ quản lý năng động hơn không bị bó hẹp trong một số đối tác như công ty hợp danh.
Bên cạnh đó, hình thái công ty TNHH cũng có một số hạn chế trong vấn đề chuyển nhượng vốn góp hay việc tăng giảm số lượng thành viên cũng như công cụ được phép sử dụng để tăng thêm vốn, cụ thể: + Việc chuyển nhượng vốn góp được thực hiện ưu tiên theo thứ tự ưu tiên cho các thành viên hiện hữu của công ty trước sau đó mới đến các cá nhân, tổ chức ngoài công ty. + Việc tăng hay giảm số lượng thành viên cũng bị hạnh chế bởi các quy định pháp luật và sự chấp thuận của các thành viên hiện hữu trong công ty. + Công ty không được phép phát hành cổ phiếu để tăng thêm vốn. Với ưu điểm trên, loại hình công ty này được thành lập phổ biến hơn công ty hợp danh.
o Công ty Cổ phần: Là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau được gọi là cổ phần.Người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông của công ty.Cổ đông có thể là cá nhân hoặc tổ chức, tối thiểu là ba người và không hạn chế tối đa. Đây là loại hình doanh nghiệp có ưu điểm nổi trội hơn hẳn hai hình 11 thái doanh nghiệp nêu trên, cụ thể: (1) là loại hình doanh nghiệp duy nhất được phép huy động vốn bằng cổ phiếu, do đó khả năng tăng thêm vốn cho quá trình kinh doanh dễ dàng hơn; (2) sự tồn tại của công ty là liên tục không phụ thuộc vào việc thay đổi cổ đông; (3) rủi ro mà cổ đông gánh chịu được hạn chế ở mức nhất định trên cơ sở số vốn góp; (4) việc chuyển đổi quyền sở hữu được thực hiện dễ dàng thông qua việc mua bán cổ phiếu theo pháp luật quy định; (5) hình thức tổ chức quản lý, chế độ báo cáo và công bố thông tin tốt hơn hai loại hình công ty trên. Tuy nhiên, đối với hình thái doanh nghiệp này thì tính ổn định về mặt tổ chức của công ty không cao bằng công ty TNHH. Với các loại công ty khác nhau thì sẽ phù hợp với loại hình kinh doanh mà CTCK tiến hành đăng ký kinh doanh.Tuy nhiên, với một CTCK thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ thì loại hình công ty cổ phần là thích hợp hơn cả.
Phân loại theo nghiệp vụ kinh doanh Một CTCK tham gia trên thị trường có thể thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động nghiệp vụ của một CTCK. Tuỳ theo loại hoạt động nghiệp vụ CTCK tiến hành thực hiện mà CTCK có thể được xếp vào loại CTCK tổng hợp hay CTCK chuyên môn hoá. o Công ty Chứng khoán tổng hợp Là công ty thực hiện tất cả các hoạt động nghiệp vụ của một CTCK.Với hình thức CTCK tổng hợp, các hoạt động của công ty có thể hỗ trợ nhau cùng phát triển. Tuy nhiên, để có thể trở thành CTCK tổng hợp đòi hỏi các CTCK phải có tiềm lực về tài chính, đội ngũ nhân viên giỏi và hệ thống cơ sở vật chất đủ mạnh để tiến hành một cách tốt nhất các hoạt động nghiệp vụ.
o Công ty Chứng khoán chuyên môn hóa Là CTCK chỉ thực hiện một hoặc hai hoạt động nghiệp vụ. Với loại hình CTCK này thì các hoạt động mà CTCK tiến hành thực hiện phải là những 12 hoạt động mà không dẫn tới xung đột về lợi ích giữa quyền lợi của khách hàng và quyền lợi của CTCK, ví dụ như hoạt động môi giới với hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán hay hoạt động bảo lãnh phát hành với hoạt động tự doanh. CTCK chuyên môn hóa sẽ có bộ máy tổ chức gọn nhẹ hơn, quy mô vốn thấp hơn CTCK tổng hợp và công ty có thể tập trung mọi nguồn lực để phát triển hoạt động của mình. Phân loại theo hình thức kinh doanh: Theo tiêu thức này, CTCK chia thành 6 loại như sau: - Công ty môi giới (The member firm): Loại công ty này còn được gọi là công ty thành viên vì nó là một thành viên của Sở giao dịch chứng khoán.