Chương 1 cũng mô tả kết cấu các chương và chỉ ra một vài đóng góp mới của luận án về mặt thực tiễn. 9 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Mức độ phản ứng hay độ biến động của TTCK Việt Nam đối với biến động của TTCK quốc tế được giải thích dựa vào hệ số phụ thuộc và cấu trúc phụ thuộc giữa các thị trường. Chương này trình bày một số khái niệm liên quan về sự phụ thuộc lẫn nhau và sự lây lan giữa TTCK Việt Nam với TTCK quốc tế. Các khái niệm chủ yếu liên quan đến sự phụ thuộc lẫn nhau và sự lây lan giữa các TTCK khi một trong hai thị trường biến động cực biên.
Hơn nữa, chương này cũng trình bày một cách có hệ thống các lý thuyết giải thích sự phụ thuộc lẫn nhau và sự lây lan giữa các TTCK. Trong đó, cơ chế truyền dẫn gây ra sự phụ thuộc lẫn nhau và sự lây lan giữa các TTCK được luận giải, giúp các nhà đầu tư cũng như các nhà nghiên cứu tham khảo giải thích nguồn gốc của sự cùng dao động của hai thị trường. Thông qua các nghiên cứu thực nghiệm trước đây và hiện nay về mối tương quan giữa các TTCK, các ưu và nhược điểm của mỗi phương pháp sẽ được phân tích và đánh giá. Từ các ưu và nhược điểm của mỗi phương pháp, luận án đề xuất lựa chọn mô hình nghiên cứu thực nghiệm phù hợp nhất nhằm nắm bắt chính xác mối quan hệ phụ thuộc giữa TTCK Việt Nam với TTCK quốc tế.
Khoảng trống nghiên cứu về chủ đề này cũng được chỉ rõ trong nội dung của chương này.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Phần này giới thiệu các khái niệm, một vài thuật ngữ mang tính học thuật có liên quan đến chủ đề nghiên cứu nhằm giải thích rõ hơn các nội dung được trình bày trong luận án; các khái niệm liên quan đến sự phụ thuộc lẫn nhau và sự lây giữa các TTCK, nguồn gốc của sự lây lan; phân biệt sự khác nhau giữa sự lây lan và sự phụ thuộc lẫn nhau, và cuối cùng là cơ chế truyền dẫn giải thích sự phụ thuộc lẫn nhau và sự lây lan giữa các TTCK.1 Một vài khái niệm liên quan Sự biến động (Volatility) của TTCK, theo Gregoriou (2009), đề cập đến phạm vi biến động giá trong một thời kỳ nhất định của thị trường. Độ biến động liên quan đến mức độ không chắc chắn, rủi ro của thị trường. Đây là một thước đo thống kê về sự phân tán lợi nhuận của bất kỳ tài sản nào. Về mặt thống kê, biến động là độ lệch chuẩn hay phương sai của lợi nhuận theo tần suất ngày, tháng hoặc năm của một cổ phiếu hay chỉ số chứng khoán trong một khoảng thời gian nhất định và cho thấy phạm vi mà giá của nó có thể tăng hoặc giảm.
Nếu giá của một cổ phiếu biến động nhanh chóng trong một thời gian ngắn, chạm mức cao và mức thấp mới, nó được cho là có độ biến động cao. Trong thị trường tài chính, qui trình GARCH, đề xuất bởi Engle (1982), được tiếp cận để ước tính sự biến động lợi nhuận của cổ phiếu, trái phiếu và các chỉ số thị trường. Các mô hình GARCH đơn biến mô tả biến động lợi nhuận thị trường trong thời kỳ biến 10 động cực đoan như khủng hoảng tài chính, dịch bệnh v. và trong giai đoạn thị trường ổn định như thời kỳ tăng trưởng kinh tế.
Trong luận án này, mô hình ARMA(p,q)-GJR- GARCH(r,m) được vận dụng để mô tả biến động của mỗi chuỗi lợi suất chứng khoán. Gọi rt , t2 lần lượt đại diện cho lợi suất chứng khoán và phương sai có điều kiện tại thời điểm t. Mô hình biên của chuỗi lợi suất có dạng: p q rt = c + i rt −i + t + i t −i , (2.2) i =1 i =1 i =1 trong đó, 𝛾 thể hiện hiệu ứng đòn bẩy; st −i = 1 khi t −i 0 và st −i = 0 trong trường hợp ngược lại; t đại diện cho sai số. Sự phụ thuộc (Dependence) được đưa ra bởi Santos (1970).
Khi đó, sự phụ thuộc được hiểu là tình huống nền kinh tế của một hay một số quốc gia chịu ảnh hưởng bởi các nước phát triển hay đang phát triển, bao gồm cả chiều hướng tích cực và tiêu cực. Khái niệm phụ thuộc cho phép chúng ta nhìn nhận nền kinh tế nội địa như một bộ phận của nền kinh tế thế giới (Santos, 1970). Thuật ngữ sự phụ thuộc giữa các thị trường tài chính trong các nghiên cứu hiện đại thừa kế và mở rộng khái niệm của Santos (1970). Sự phụ thuộc lẫn nhau (Interdependence/Co-movement) giữa các thị trường tài chính có nghĩa là sự biến động của một thị trường (hay một nhóm thị trường) này ở một mức độ nào đó có tác động làm cho một thị trường (hay một nhóm thị trường) khác cũng biến động ở một mức độ nhất định.
Sự phụ thuộc lẫn nhau hay sự đồng chuyển động thường đề cập đến mối tương quan giữa hai thị trường trong bối cảnh thị trường tĩnh hoặc biến động bình thường (Longin và Solnik, 2001; Poon và ctv, 2004). Trong trường hợp này, mức độ phụ thuộc giữa hai thị trường được đo bằng hệ số tương quan tuyến tính Pearson trong các mô hình ước lượng bình phương bé nhất, mô hình VECM v. hoặc thông qua hệ số tương quan có điều kiện cố định như mô hình CCC-GARCH, hệ số tương quan có điều kiện động như mô hình DCC-GARCH v. Trong luận án này, sự phụ thuộc lẫn nhau và mức độ phụ thuộc được tiếp cận thông qua hàm copula.
Copula có nhiều dạng hàm khác nhau để đo lường phụ thuộc giữa hai thị trường trong cả thị trường biến động bình thường và thị trường biến động cực đoan dưới tác động của các cú sốc âm và cú sốc dương. Hệ số phụ thuộc được xác định thông hàm copula đã được trình bày sơ lược ở Mục 1. Để làm rõ cách đo lường mức độ phụ thuộc, hàm copula Gumbel được lấy làm ví dụ minh họa. Copula Gumbel được sử dụng để xác định hệ số phụ thuộc đuôi trên khi một trong hai thị trường tăng giá mạnh do đón nhận thông tin cực kỳ tích cực.3) 11 trong đó, là tham số copula, được ước lượng bằng hàm suy luận cận biên (Inference Function of Margins - IFM) được trình bày chi tiết trong Mục 3.
Từ tham số thu được, hệ số phụ thuộc đuôi trên được tính bởi công thức U = 2 − 2−1 . Hơn nữa, copula chỉ ra cấu trúc phụ thuộc8 mô tả tốt nhất tương quan biến động giữa hai thị trường, có thể được vận dụng để dự đoán mức độ phụ thuộc khi một trong hai thị trường biến động cực đoan. Phương trình (2.3) là cấu trúc phụ thuộc giữa hai thị trường khi một trong hai thị trường hứng chịu cú sốc âm (Baur, 2013). Một cách tiếp cận khác khác để xem xét mức độ phụ thuộc giữa hai biến ngẫu nhiên X và Y thông qua phân phối Farlie–Gumbel–Morgenstern (FGM) được Johnson và Kotz giới thiệu (1977) giới thiệu.
Lin (1987) xây dựng hàm phân phối hai chiều Farlie–Gumbel–Morgenstern (FGM) với hàm phân phối biên của biến X và Y lần lượt là F và G. Sự phụ thuộc của hai biến ngẫu nhiên X và Y được mô tả thông qua phân phối Farlie–Gumbel–Morgenstern (FGM) hai chiều có dạng: ( ) H ( x, y ) = F ( x)G ( y ) 1 + F ( x)G ( y ) , (2.) trên R+ = 0, ) là các phân phối biên của biến X, Y; = −1;1 là tham số thể hiện mức độ phụ thuộc. Tuy nhiên, hàm phân phối FGM mô tả mức độ phụ thuộc chung cho giai đoạn dữ liệu nghiên cứu, không chỉ ra được mức độ giảm (tăng) của thị trường X khi thị trường Y sụp đổ (bùng nổ). Luận án này sử dụng khái niệm cấu trúc phụ thuộc được định nghĩa bởi Baur (2013), trong đó xem xét mức độ phụ thuộc gắng liền với các biến cố hiếm hay trong thời kỳ thị trường hứng chịu cú sốc lớn.
Cấu trúc phụ thuộc giữa hai thị trường được biểu thị qua hàm copula giúp trả lời cho các câu hỏi như: Cấu trúc nào là phù hợp nhất với cho mối quan hệ phụ thuộc giữa TTCK Việt Nam với các TTCK quốc tế? Tham số của copula9 chỉ ra mức độ phụ thuộc giữa hai TTCK trong điều kiện thị trường biến động bình thường là bao nhiêu? Thông qua hệ số phụ thuộc đuôi trái (đuôi phải) của hàm phân phối xác suất của hàm copula, khả năng TTCK Việt Nam giảm (tăng) bao nhiêu khi TTCK quốc tế sụp đổ (bùng nổ)? Sự phụ thuộc đuôi (Tail dependence) Khái niệm này liên quan đến thống kê, sự phụ thuộc đuôi của các biến ngẫu nhiên liên quan chủ yếu đến phần đuôi của hàm phân phối xác suất đồng thời của chúng. Phụ thuộc đuôi là xác suất khi một biến vượt quá một giá trị cho trước khi một biến khác đã vượt quá một giá trị cho trước nào đó (Joe, 1997)10. Khái niệm và công thức đo lường 8 Cấu trúc phụ thuộc giữa hai thị trường được mô tả bởi hàm phân phối xác suất đồng thời của hai chuỗi lợi suất của chỉ số đại diện cho hai thị trường đó. Trong luận án này, cấu trúc phụ thuộc là dạng hàm copula.
9 Copula và các thuộc tính của chúng được trình bày chi tiết trong mục 3.2 12 hệ số phụ thuộc đuôi của hàm copula được giới thiệu sơ lược trong phương trình (1.6 và trình bày một cách chi tiết ở Mục 3. Khủng hoảng tài chính chỉ trạng thái sụt giảm mạnh trong ngắn hạn về giá trị của các tài sản tài chính, gây mất khả năng thanh khoản của các tổ chức tài chính, dẫn đến sự sụp đổ và phá sản dây chuyền trong hệ thống tài chính (Kindleberger và Charles, 2005). Kenton (2023) cho rằng một cuộc khủng hoảng tài chính có thể có nhiều nguyên nhân. Thông thường, cuộc khủng hoảng có thể xảy ra nếu các tổ chức hoặc tài sản được định giá quá cao và có thể được làm trầm trọng hơn bởi hành vi đầu tư không hợp lý hoặc theo đám đông.
Ví dụ, một loạt hành vi bán tháo nhanh có thể dẫn đến giá tài sản giảm, thúc đẩy cá nhân bán tài sản hoặc rút tiền tiết kiệm khi có tin đồn về sự cố ngân hàng lan truyền.