Chương 1. Lý luận chung về năng lực tài chính của công ty chứng khoán Chương 2. Thực trạng năng lực tài chính của công ty cổ phần chứng khoán Ngân Hàng Công Thương Việt Nam giai đoạn 2009-2012 Chương 3. Một số giải pháp nâng cao năng lực tài chính của công ty cổ phần chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam Kim Thủy Tiên Lớp TCDNB-K12 4 Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1.1 Những vấn đề cơ bản về công ty chứng khoán 1.1 Khái niệm và chức năng của công ty chứng khoán Bất cứ thị trường nào muốn hình thành, hoạt động và phát triển một cách hiệu quả đều không thể thiếu được các chủ thể tham gia kinh doanh trên thị trường.
Thị trường chứng khoán cũng không ngoại lệ, bởi yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường chính là các công ty chứng khoán. Khái niệm công ty chứng khoán Theo quyết định số 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007 của Bộ trưởng Bộ tài chính thì công ty chứng khoán “là một tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán , tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán” Với định nghĩa như vậy chúng ta có thể thấy rõ một đặc điểm nổi bật của CTCK so với các loại hình tổ chức tài chính trung gian khác đó là vai trò trung gian đầu tư của mình. Với vai trò này các CTCK giúp nhà đầu tư dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm và thực hiện các khoản đầu tư, đồng thời các CTCK cũng giúp cho các chủ thể phát hành có thể đẩy nhanh và mạnh các đợt thu hút vốn đầu tư của mình bằng việc phát hành các loại chứng khoán phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn. CTCK là một tổ chức kinh doanh có điều kiện và bị kiểm soát nghiêm ngặt bởi UBCKNN.
Trong Luật chứng khoán và các văn bản hướng dẫn thực hiện đã xác định rất cụ thể mức vốn pháp định đối với từng loại hoạt động của CTCK cũng như tổng mức nợ của một CTCK có thể thực hiện. Điều này có thể hiểu được do tính đặc thù trong hoạt động kinh doanh của mình CTCK sẽ có tác động rất lớn đến lợi ích của các nhà đầu tư và đặc biệt đối với các CTCK thực hiện cùng lúc nhiều hoạt động. Đối với các công ty như trên thì khả năng xảy ra xung đột lợi ích là rất lớn và nếu không được kiểm soát chặt chẽ thì các CTCK này có thể lợi dụng các đặc thù trong hoạt động của mình để chuộc lợi. Kim Thủy Tiên Lớp TCDNB-K12 5 Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Hiện nay, ở Việt nam các CTCK được thành lập theo hình thức chuyên doanh, tức là đều chỉ hoạt động kinh doanh chứng khoán mà không tham gia kinh doanh tiền tệ hay bảo hiểm.
Chức năng của công ty chứng khoán - Cung cấp cơ chế huy động vốn: Thông qua hoạt động mua bán chứng khoán, thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh phát hành trên thị trường các CTCK tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa người có tiền nhàn rỗi đến người cần sử dụng nguồn vốn đó một cách nhanh chóng và hiệu quả. - Cung cấp cơ chế giá cả cho chứng khoán: TTCK là nơi gặp gỡ giữa những người cần vốn và người có vốn nhàn rỗi để đầu tư vào chứng khoán. Hai chủ thể này gặp nhau trên TTCK thông qua hệ thống khớp lệnh hoặc khớp giá để xác định giá giao dịch. Các CTCK đã giúp người bán gặp được người mua một cách nhanh chóng và hiệu quả, tiết kiệm được thời gian cũng như chi phí cho cả hai bên.
- Cung cấp cơ chế chuyển ra tiền mặt cho nhà đầu tư, tạo ra tính thanh khoản cho các chứng khoán. - Các CTCK thông qua hoạt động tự doanh hoặc vai trò của nhà tạo lập thị trường (market maker) góp phần điều tiết và bình ổn thị trường.2 Những hoạt động nghiệp vụ cơ bản của công ty chứng khoán Các hoạt động của CTCK rất đa dạng và phong phú với nhiều sản phẩm, dịch vụ tài chính để đáp ứng các yêu cầu của TTCK Để tham gia thị trường, CTCK có thể thực hiện một, một vài hoặc tất cả các hoạt động nghiệp vụ sau: 1.1 Hoạt động môi giới chứng khoán Hoạt động môi giới là hoạt động mà CTCK đại diện cho khách hàng thực hiện các giao dịch theo lệnh của khách hàng thông qua cơ chế giao dịch tại sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC và không chịu trách nhiệm đối với các quyết định mua bán của khách hàng. Hoạt động môi giới chứng khoán có ba chức năng cơ bản: Cung cấp thông tin, tư vấn đầu tư cho khách hàng và thực hiện nhu cầu mua bán chứng khoán cho khách hàng khi cần thiết. Kim Thủy Tiên Lớp TCDNB-K12 6 Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Khi thực hiện hoạt động môi giới, các CTCK chỉ đơn thuần làm trung gian để hưởng hoa hồng, khách hàng là người yêu cầu thực hiện và chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của giao dịch đó.2 Hoạt động tự doanh Theo Luật chứng khoán thì: “Tự doanh chứng khoán là hoạt động mà CTCK tự mua hoặc bán chứng khoán cho chính mình”.
Bên cạnh mục đích chính là lợi nhuận, hoạt động tự doanh chứng khoán của CTCK còn nhằm mục đích can thiệp điều tiết giá chứng khoán, tạo lập thị trường cho các chứng khoán mới phát hành và thu gom cổ phiếu lô lẻ cho các khách hàng của mình. Luật các nước đều quy định CTCK phải dành một tỷ lệ phần trăm nhất định các giao dịch của mình cho hoạt động bình ổn thị trường (ở Mỹ là 60%). Hoạt động tự doanh là hoạt động mà CTCK kinh doanh bằng chính nguồn vốn của mình nên áp lực đối với người trực tiếp tự doanh là rất lớn. Vì vậy, CTCK phải đảm bảo có nguồn vốn lớn và một đội ngũ nhân viên tự doanh có trình độ phân tích, phán đoán thị trường nhanh nhạy, đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý.3 Hoạt động bảo lãnh phát hành “Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết với tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành hoặc hỗ trợ tổ chức phát hành trong việc phân phối chứng khoán ra công chúng.”- Theo Luật chứng khoán.
Đối với hoạt động bảo lãnh phát hành, CTCK được hưởng phí bảo lãnh hoặc tỷ lệ hoa hồng nhất định trên số tiền thu được từ đợt phát hành.4 Hoạt động tƣ vấn Tư vấn là dịch vụ CTCK cung cấp cho khách hàng trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán; tái cơ cấu tài chính; chia tách, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp; phát hành và niêm yết chứng khoán. Kim Thủy Tiên Lớp TCDNB-K12 7 Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Theo đối tượng của hoạt động tư vấn có thể phân chia hoạt động tư vấn thành tư vấn đầu tư chứng khoán và tư vấn tài chính. Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc đội ngũ tư vấn của CTCK sử dụng các công cụ phân tích và các thông tin thu thập được để đưa ra các lời khuyên cho khách hàng về các hoạt động mua bán chứng khoán. Tư vấn tài chính (tư vấn cho người phát hành) là việc CTCK ký kết hợp đồng tư vấn với các doanh nghiệp để thực hiện các hoạt động như xác định giá trị doanh nghiệp, phát hành chứng khoán, niêm yết chứng khoán, chia tách, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp.5 Các hoạt động phụ trợ khác Các dịch vụ hỗ trợ của CTCK góp phần tạo thuận lợi cho nhà đầu tư trong việc đầu tư chứng khoán, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
Một số dịch vụ hỗ trợ đó là: - Lưu ký chứng khoán: là việc nhận ký gửi, bảo quản, chuyển giao chứng khoán cho khách hàng, giúp khách hàng thực hiện các quyền liên quan đến sở hữu chứng khoán. Lưu ký đảm bảo quá trình thanh toán trên sở giao dịch chứng khoán được nhanh chóng, chính xác. Thông qua lưu ký chứng khoán, CTCK giúp khách hàng thực hiện tất cả các quyền lợi liên quan đến chứng khoán của khách hàng như nhận cổ tức, trái tức, cổ phiếu thưởng, quyền mua cổ phiếu phát hành thêm. - Hoạt động tín dụng: là hoạt động mà CTCK giúp khách hàng của mình gia tăng khoản vốn đầu tư thông qua các hình thức như cho vay cầm cố chứng khoán, cho vay bảo chứng, cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán… + Cho vay cầm cố chứng khoán là loại hình tín dụng mà trong đó người đi vay dùng tài sản của mình là các chứng khoán niêm yết để cầm cố với mục đích vay tiền mua chứng khoán niêm yết.
+ Cho vay bảo chứng là hình thức CTCK cho khách hàng vay một phần tiền để mua chứng khoán và dùng chính chứng khoán mua được đó để làm tài sản thế chấp. + Cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán: thông thường sau khi bán được chứng khoán, khách hàng phải đợi đến ngày thanh toán mới được nhận tiền, để tạo thuận lợi cho khách hàng, CTCK sẽ dùng tiền của mình ứng trước cho khách hàng và sẽ nhận lại khoản tiền ứng trước này khi đến ngày thanh toán. Kim Thủy Tiên Lớp TCDNB-K12 8 Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng 1.2 Năng lực tài chính của công ty chứng khoán 1.1 Khái niệm về năng lực tài chính Năng lực tài chính không phải là một khái niệm mới, song từ trước đến nay khái niệm này chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống. Ở góc độ kinh tế học, tài chính được hiểu là sự vận động của tiền tệ với hai chức năng là phương tiện thanh toán và phương tiện cất trữ.
Tài chính phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế gắn với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định. Theo đó, có thể định nghĩa về “năng lực tài chính của doanh nghiệp” là sức mạnh nội lực tài chính của bản thân doanh nghiệp, là khả năng tạo tiền, tổ chức lưu chuyển tiền và sử dụng hợp lý, thể hiện ở quy mô vốn, chất lượng tài sản, khả năng thanh toán và khả năng sinh lời nhằm tối đa hóa lợi nhuân và hướng tới tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.