Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Kim Thủy Tiên (Khoa Tài chính, Học viện Ngân hàng, khóa 2009-2013) tiếp cận vấn đề năng lực tài chính của các định chế tài chính trung gian trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ngày 07/11/2006. Bước sang giai đoạn 2010–2012, thị trường chứng khoán Việt Nam sau hơn một thập kỷ hình thành (từ năm 2000) phải đối mặt với nhiều biến động kinh tế vĩ mô tiêu cực, thanh khoản sụt giảm mạnh và chỉ số chứng khoán lao dốc. Tình trạng này đã phơi bày lỗ hổng lớn về năng lực tài chính và sức cạnh tranh yếu kém của các công ty chứng khoán trong nước, dẫn đến việc hàng loạt công ty phải giải thể, đóng cửa hoặc bị đưa vào diện kiểm soát đặc biệt trong năm 2012 do không đáp ứng tỷ lệ an toàn tài chính. Thêm vào đó, việc mở cửa thị trường tài chính theo lộ trình cam kết WTO kéo theo sự xuất hiện của các định chế ngoại có quy mô vốn vượt trội, đặt các công ty chứng khoán nội địa trước áp lực đào thải gay gắt.

Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam (VietinBankSc, mã chứng khoán CTS) là một trong những thành viên đầu tiên của thị trường chứng khoán Việt Nam. Mặc dù duy trì được kết quả kinh doanh có lãi qua các năm nhờ sự hỗ trợ của ngân hàng mẹ là Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank), năng lực tài chính của công ty vẫn bộc lộ nhiều điểm hạn chế, quy mô vốn điều lệ chưa theo kịp tốc độ tăng trưởng của các định chế dẫn đầu và chưa tương xứng với vị thế trên thị trường.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể qua 3 nhiệm vụ được đánh số trong văn bản:

  1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về công ty chứng khoán và năng lực tài chính của công ty chứng khoán.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực tài chính của Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam giai đoạn 2010–2012, chỉ rõ những kết quả đạt được, những hạn chế còn tồn tại cùng nguyên nhân cốt lõi.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao năng lực tài chính cho VietinBankSc và đưa ra các kiến nghị đối với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cùng Ngân hàng Công thương Việt Nam nhằm hỗ trợ công ty nâng cao sức cạnh tranh đến năm 2020.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Năng lực tài chính của Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam (trụ sở chính, 2 chi nhánh tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và mạng lưới phòng giao dịch).
  • Phạm vi thời gian: Số liệu phân tích thực trạng giai đoạn 2010–2012, định hướng phát triển của thị trường chứng khoán và công ty đến năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng khung lý thuyết dựa trên các chuẩn mực pháp lý và khái niệm học thuật chuyên ngành tài chính - chứng khoán:

  • Khung văn bản quy phạm pháp luật: Luật Chứng khoán năm 2006; Quyết định số 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/04/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán (xác định mức vốn pháp định cho từng nghiệp vụ: môi giới 25 tỷ đồng, tự doanh 100 tỷ đồng, bảo lãnh phát hành 165 tỷ đồng, tư vấn đầu tư 10 tỷ đồng); Thông tư số 226/2010/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định chỉ tiêu an toàn tài chính và biện pháp xử lý đối với tổ chức kinh doanh chứng khoán không đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính (ngưỡng an toàn vốn khả dụng CAR: tối thiểu 180%, từ 120% đến 150% thuộc diện kiểm soát, dưới 120% thuộc diện kiểm soát đặc biệt).
  • Khái niệm và hệ thống chỉ tiêu năng lực tài chính: Tác giả xác định năng lực tài chính của doanh nghiệp là sức mạnh nội lực tài chính, khả năng tạo tiền, tổ chức lưu chuyển tiền và sử dụng hợp lý, thể hiện ở quy mô vốn, chất lượng tài sản, khả năng thanh toán và khả năng sinh lời. Hệ thống đánh giá được chia làm hai nhóm:
    • Nhóm chỉ tiêu định lượng: Quy mô và cơ cấu nguồn vốn (vốn tự có, vốn điều lệ, lợi nhuận giữ lại, vốn vay, tỷ số nợ, tỷ số vốn chủ sở hữu, tỷ số nợ/vốn chủ sở hữu, tỷ lệ an toàn vốn khả dụng CAR); Chất lượng và cơ cấu tài sản (tỷ suất đầu tư tài sản ngắn hạn/dài hạn, hiệu suất sử dụng tài sản lưu động, hiệu suất sử dụng tổng tài sản, hoạt động ngân quỹ, danh mục đầu tư tài chính); Khả năng sinh lời (doanh thu, lợi nhuận sau thuế, các tỷ suất sinh lời ROA, ROE, ROS); Khả năng thanh toán (hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, hệ số thanh toán nhanh, hệ số thanh toán tức thời).
    • Nhóm chỉ tiêu định tính: Năng lực quản lý của ban lãnh đạo, trình độ công nghệ thông tin và cơ sở hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực.
  • Bài học kinh nghiệm quốc tế: Khóa luận khảo cứu trường hợp tái cơ cấu tài chính thành công của ngân hàng đầu tư Morgan Stanley (Hoa Kỳ) sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008–2009 thông qua các giải pháp tăng vốn, cơ cấu lại danh mục đầu tư, tập trung vào nghiệp vụ truyền thống, cắt giảm chi phí và nâng cao dự trữ thanh khoản.

Phương pháp nghiên cứu được vận dụng xuyên suốt bao gồm:

  • Phương pháp luận duy vật biện chứng.
  • Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh (so sánh số liệu theo chuỗi thời gian 2010–2012 và so sánh ngang với các công ty chứng khoán cùng ngành như SSI, HSC, BVS, KLS), phương pháp phân tích tỷ số tài chính và phương pháp tổng hợp - khái quát hóa từ lý luận đến thực tiễn.

Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu:

  • Báo cáo tài chính kiểm toán và Báo cáo thường niên của Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam giai đoạn 2010–2012.
  • Báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của các công ty chứng khoán niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
  • Dữ liệu công bố chính thức từ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE).
  • Số liệu thống kê vốn điều lệ của một số công ty chứng khoán khu vực châu Á tại thời điểm 31/12/2012.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận chung về năng lực tài chính của các công ty chứng khoán

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về vị trí, vai trò của công ty chứng khoán với tư cách là định chế tài chính trung gian trên thị trường chứng khoán. Tác giả phân tích các nghiệp vụ kinh doanh cơ bản theo quy định pháp luật: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành, tư vấn tài chính doanh nghiệp và tư vấn đầu tư chứng khoán, cùng các dịch vụ phụ trợ như lưu ký chứng khoán và hoạt động hỗ trợ tín dụng (cho vay cầm cố, cho vay bảo chứng, ứng trước tiền bán chứng khoán).

Tác giả luận giải sự cần thiết phải nâng cao năng lực tài chính của công ty chứng khoán xuất phát từ 3 yêu cầu căn bản: đáp ứng mục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu; tăng cường khả năng cạnh tranh về biểu phí dịch vụ và chất lượng sản phẩm; đáp ứng lộ trình hội nhập tài chính quốc tế khi các công ty chứng khoán 100% vốn nước ngoài tham gia thị trường. Năng lực tài chính vừa là tấm đệm phòng ngừa rủi ro (thị trường, thanh toán, hoạt động), vừa là điều kiện tiên quyết để được cấp phép đầy đủ các nghiệp vụ kinh doanh theo quy định vốn pháp định.

Chương này cũng phân tích kinh nghiệm vượt khủng hoảng tài chính 2008–2009 của Morgan Stanley (Mỹ). Định chế này đã tăng cường vốn tự có thông qua huy động 30 tỷ USD từ Quỹ lợi ích tối cao Trung Quốc và đối tác, vay 107,3 tỷ USD từ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), phát hành 8 tỷ USD cổ phiếu phổ thông và 4 tỷ USD trái phiếu vào tháng 5/2009. Đồng thời, Morgan Stanley thoái vốn khỏi các lĩnh vực phi cốt lõi (chấp nhận lỗ 299 triệu USD khi rời Revel Entertainment), mua 51% cổ phần Smith Barney từ Citibank để thâu tóm mạng lưới 18.000 nhà môi giới, sa thải 1.600 nhân viên kém hiệu quả nhằm tiết kiệm 1,4 tỷ USD chi phí và nâng dự trữ tiền gửi ngân hàng lên 100 tỷ USD. Bài học rút ra cho các công ty chứng khoán Việt Nam bao gồm: bổ sung nguồn vốn tự có, tái cơ cấu danh mục đầu tư an toàn, tiết giảm chi phí vận hành, củng cố dự trữ thanh khoản và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Chương 2: Thực trạng năng lực tài chính của Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam giai đoạn 2010–2012

Chương 2 trình bày quá trình phát triển của VietinBankSc từ tiền thân là Phòng Kinh doanh Chứng khoán thuộc VietinBank (thành lập ngày 01/06/2000, vốn điều lệ ban đầu 55 tỷ đồng, khai trương ngày 16/11/2000). Công ty chuyển đổi mô hình thành công ty cổ phần từ ngày 01/07/2009 với vốn điều lệ 789,9 tỷ đồng và chính thức niêm yết trên HNX với mã CTS vào ngày 31/07/2009. Cơ cấu tổ chức gồm Hội đồng quản trị, Ban Tổng Giám đốc, 2 chi nhánh và 8 phòng chức năng chia thành khối Front Office và Back Office.

Chỉ tiêu tài chính kinh doanh Năm 2010 Năm 2011 Tăng giảm 2011/2010 Năm 2012 Tăng giảm 2012/2011
Doanh thu thuần từ HĐKD (triệu đồng) 209.362 195.699 -6,53% - -
Chi phí hoạt động kinh doanh (triệu đồng) 199.680 133.144 -33,32% - -
Lợi nhuận sau thuế (triệu đồng) 21.740 63.000* +195,0% ~73.000* +13,85%
Doanh thu môi giới (triệu đồng) 61.338 22.296 -63,65% 31.504 +68,22%
Doanh thu tự doanh (triệu đồng) 78.012 94.472 +21,10% 66.428 -14,85%
Doanh thu bảo lãnh (triệu đồng) 9.250 5.660 -38,81% 250 -95,50%
Tỷ số nợ 20,8% 40,7% - 19,8% -
Tỷ số vốn chủ sở hữu 79,2% 59,3% - 80,2% -
Nợ ngắn hạn / Tổng nợ 97,0% 99,0% - 96,0% -
Tỷ trọng tài sản ngắn hạn 81,36% 83,31% - 76,45% -
Tỷ trọng tài sản dài hạn 18,64% 16,69% - 23,55% -
Hiệu suất sử dụng TSLĐ (vòng) 0,20 0,15 - 0,21 -
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản (vòng) 0,18 0,13 - 0,16 -
Tổng dự trữ ngân quỹ (triệu đồng) 171.189 585.773 +242,3% 171.509 -70,7%

(Ghi chú: Số liệu lợi nhuận sau thuế năm 2011 và 2012 được dẫn chiếu từ phần thuyết minh kết quả kinh doanh của văn bản).

Về quy mô và cơ cấu nguồn vốn, vốn điều lệ của công ty giữ nguyên ở mức 789,9 tỷ đồng từ năm 2009 đến năm 2012 (trong đó VietinBank nắm giữ 76%). Do không tăng vốn điều lệ, VietinBankSc tụt từ vị trí thứ 7 (năm 2010) xuống vị trí thứ 12 trên toàn thị trường chứng khoán Việt Nam về vốn điều lệ vào cuối năm 2012, khoảng cách khá xa so với SSI (3.537,9 tỷ đồng), Agriseco (2.120 tỷ đồng), KLS (2.025 tỷ đồng). So với các công ty chứng khoán khu vực châu Á như Kim Eng Singapore (364,5 triệu USD) hay Tisco Thái Lan (252,3 triệu USD), quy mô vốn của VietinBankSc chỉ bằng 10–15%.

Tỷ số nợ của công ty ở mức thấp (năm 2010 là 20,8%, năm 2012 là 19,8%), thấp hơn nhiều so với mức trung bình ngành năm 2012 (47%) và các công ty cùng ngành như SSI (36%), HSC (38%). Nợ ngắn hạn chiếm từ 96% đến 99% tổng nợ, trong đó công ty hoàn toàn không sử dụng nợ vay dài hạn. Tỷ lệ an toàn vốn khả dụng (CAR) tại thời điểm 30/06/2012 đạt 501%, cao vượt trội so với ngưỡng kiểm soát 180% của UBCKNN (vốn khả dụng đạt 829,4 tỷ đồng trong khi tổng giá trị rủi ro chỉ là 165,5 tỷ đồng, bao gồm 90 tỷ đồng rủi ro thị trường, 25 tỷ đồng rủi ro thanh toán và 50 tỷ đồng rủi ro hoạt động).

Về chất lượng và cơ cấu tài sản, tài sản ngắn hạn chiếm ưu thế tuyệt đối (trên 76%), đảm bảo khả năng thanh khoản cao nhưng tỷ suất đầu tư tài sản dài hạn còn thấp. Hiệu suất sử dụng tổng tài sản năm 2012 đạt 0,16 vòng (cao hơn mức trung bình ngành là 0,13 vòng). Dự trữ ngân quỹ năm 2011 tăng vọt lên 585,77 tỷ đồng (chiếm 39,45% tổng nguồn vốn) chủ yếu dưới dạng tiền gửi ngân hàng hưởng lãi suất cao, trước khi giảm về mức 171,51 tỷ đồng trong năm 2012 khi các khoản công nợ giao dịch được tất toán.

Đánh giá tổng quát của chương chỉ rõ:

  • Kết quả đạt được: Công ty duy trì khả năng sinh lời liên tục trong bối cảnh thị trường suy thoái, kiểm soát rủi ro tài chính xuất sắc, hệ số an toàn vốn khả dụng thuộc top đầu thị trường, không chịu áp lực chi phí lãi vay do tỷ số nợ thấp.
  • Hạn chế và nguyên nhân: Quy mô vốn tự có tăng trưởng chậm do không tăng vốn điều lệ trong 4 năm liên tiếp; chưa tận dụng được đòn bẩy tài chính để mở rộng quy mô kinh doanh; cơ cấu doanh thu phụ thuộc nhiều vào tự doanh trong khi doanh thu bảo lãnh phát hành và tư vấn sụt giảm nghiêm trọng; thị phần môi giới còn khiêm tốn (đạt 2,7% năm 2012); cơ cấu tài sản thiên lệch vào ngắn hạn làm giảm khả năng sinh lời dài hạn.

Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực tài chính đối với Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam

Căn cứ vào định hướng phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam đến năm 2020 và chiến lược của công ty, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp tài chính và 2 nhóm kiến nghị:

  1. Tăng cường nguồn vốn kinh doanh và đa dạng hóa cơ cấu vốn: Xây dựng lộ trình tăng vốn điều lệ thông qua phát hành thêm cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu hoặc tìm kiếm cổ đông chiến lược nước ngoài; nâng dần tỷ lệ sử dụng nợ vay hợp lý thông qua các kênh tín dụng ngân hàng và phát hành trái phiếu doanh nghiệp nhằm khai thác lợi thế của lá chắn thuế và đòn bẩy tài chính.
  2. Nâng cao khả năng sinh lời và cân đối nguồn thu: Tái cơ cấu danh mục tự doanh theo hướng giảm tỷ trọng cổ phiếu đầu cơ rủi ro cao, gia tăng tỷ trọng trái phiếu chính phủ và cổ phiếu blue-chips có cổ tức ổn định; đẩy mạnh hoạt động môi giới nhằm tăng thị phần; khôi phục và mở rộng mảng dịch vụ bảo lãnh phát hành cùng tư vấn tài chính doanh nghiệp (tư vấn cổ phần hóa, bán đấu giá cổ phần nhà nước cho SCIC, tái cấu trúc tài chính) để giảm phụ thuộc vào mảng đầu tư tài chính.
  3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Chuẩn hóa trình độ chuyên môn của đội ngũ môi giới, phân tích và tự doanh; tổ chức đào tạo nội bộ thường xuyên về quản trị rủi ro; xây dựng chính sách tiền lương, thưởng gắn liền với hiệu quả kinh doanh nhằm thu hút và giữ chân nhân sự chất lượng cao.
  4. Đổi mới mô hình và cơ cấu tổ chức: Rà soát lại mạng lưới các điểm hỗ trợ giao dịch, sáp nhập hoặc đóng cửa các điểm hoạt động không có lãi; nâng cấp hệ thống phần mềm giao dịch và hạ tầng công nghệ thông tin để giảm thiểu rủi ro hoạt động và tiết kiệm chi phí quản lý.
  5. Kiến nghị:
    • Với cơ quan quản lý (UBCKNN, Bộ Tài chính): Hoàn thiện khung khổ pháp lý về an toàn tài chính, tạo điều kiện triển khai các sản phẩm tài chính mới, đẩy nhanh tiến trình tái cấu trúc hệ thống công ty chứng khoán.
    • Với ngân hàng mẹ (VietinBank): Hỗ trợ công ty trong các kế hoạch tăng vốn điều lệ; tăng cường phối hợp bán chéo sản phẩm dịch vụ chứng khoán - ngân hàng qua mạng lưới chi nhánh VietinBank; hỗ trợ nguồn vốn tài trợ cho các hợp đồng bảo lãnh phát hành lớn.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể dựa trên số liệu thực tế của VietinBankSc:

  • Lập bức tranh định lượng chi tiết về năng lực tài chính của VietinBankSc giai đoạn 2010–2012: xác nhận công ty nằm trong nhóm 5 công ty chứng khoán niêm yết đạt lợi nhuận cao nhất thị trường trong hai năm 2011–2012 (lợi nhuận sau thuế năm 2011 đạt trên 63 tỷ đồng, tăng 195% so với năm 2010; năm 2012 đạt gần 73 tỷ đồng, tăng 13,85%).
  • Đánh giá chính xác mức độ an toàn tài chính: công ty duy trì tỷ lệ an toàn vốn khả dụng CAR lên tới 501% (tại ngày 30/06/2012), tổng giá trị rủi ro chỉ ở mức 165,5 tỷ đồng trên 829,4 tỷ đồng vốn khả dụng, cao hơn rất nhiều so với quy định 180% của Thông tư 226/2010/TT-BTC.
  • Làm rõ cấu trúc vốn đặc thù: tỷ số nợ duy trì ở mức an toàn cao (19,8% năm 2012), tỷ số vốn chủ sở hữu đạt 80,2%, hoàn toàn không có nợ vay dài hạn.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ gắn với thực tế của doanh nghiệp: giải pháp tăng vốn điều lệ thoát khỏi vị trí thứ 12 về quy mô vốn, đa dạng hóa cơ cấu nguồn thu chuyển dịch từ tự doanh sang môi giới và tư vấn tài chính doanh nghiệp, kiến nghị cơ chế phối hợp cụ thể với ngân hàng mẹ VietinBank.
  • Về mặt học thuật và thực tiễn, tác giả tự nêu đóng góp của đề tài là việc vận dụng lý luận về năng lực tài chính vào đặc thù của định chế kinh doanh chứng khoán chuyên doanh tại Việt Nam trong giai đoạn thị trường tái cấu trúc, cung cấp cơ sở phân tích thực chứng cho ban điều hành công ty.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên phạm vi và nội dung văn bản, nghiên cứu bộc lộ một số hạn chế gắn liền với điều kiện thực hiện:

  • Dữ liệu khảo sát dừng lại ở mốc thời gian kết thúc năm tài chính 2012, chưa phản ánh được các tác động tiếp theo của tiến trình tái cấu trúc hệ thống công ty chứng khoán theo Đề án tái cấu trúc thị trường chứng khoán của Chính phủ sau năm 2013.
  • Các chỉ tiêu tài chính chuyên sâu về khả năng thanh toán chi tiết (Bảng 2.14) và các tỷ suất sinh lời ROA, ROE, ROS (Bảng 2.15, Biểu đồ 2.4) cùng chi tiết danh mục đầu tư tài chính (Bảng 2.13) mới dừng ở mức đề cương bảng biểu trong tài liệu, chưa được tác giả phân tích chi tiết toàn diện trong phần trích lục.
  • Nghiên cứu chưa xây dựng mô hình hồi quy định lượng nhằm đo lường mức độ tác động của từng nhân tố cấu trúc vốn đến khả năng sinh lời của công ty chứng khoán.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ đề tài:

  • Mở rộng chuỗi số liệu tài chính sau năm 2013 để đánh giá hiệu quả của các giải pháp tăng vốn điều lệ và việc triển khai các nghiệp vụ mới (giao dịch ký quỹ chuẩn hóa, chứng khoán phái sinh).
  • Nghiên cứu so sánh toàn diện năng lực tài chính giữa nhóm công ty chứng khoán có ngân hàng mẹ bảo trợ (như VietinBankSc, BSC, Agriseco, MBKE) và nhóm công ty chứng khoán độc lập (như SSI, HSC, KLS, VNDirect).

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo rõ ràng cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Tài chính doanh nghiệp, Kinh doanh chứng khoán: Khóa luận là tài liệu tham khảo thực tế về phương pháp phân tích báo cáo tài chính của một công ty chứng khoán – loại hình doanh nghiệp có cấu trúc tài sản và yêu cầu an toàn tài chính hoàn toàn khác biệt với doanh nghiệp sản xuất thông thường.
  • Học viên, người nghiên cứu thực hiện đề tài về định chế tài chính: Chương 1 cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh về các chỉ tiêu định lượng (vốn tự có, CAR theo Thông tư 226, hệ số nợ, các vòng quay tài sản) và chỉ tiêu định tính đặc thù ngành chứng khoán.
  • Ban quản trị và bộ phận phân tích tài chính tại VietinBankSc: Phần đánh giá thực trạng ở Chương 2 và hệ thống giải pháp ở Chương 3 cung cấp luận cứ thực tiễn về việc tái cấu trúc cơ cấu nguồn vốn, chỉ rõ bất lợi của việc duy trì tỷ lệ đòn bẩy quá thấp và việc chậm lộ trình tăng vốn điều lệ so với các đối thủ trên thị trường.

Câu hỏi thường gặp

1. Vốn điều lệ của VietinBankSc trong giai đoạn 2010–2012 là bao nhiêu và đứng thứ mấy trên thị trường chứng khoán Việt Nam?
Trong suốt giai đoạn từ sau cổ phần hóa (tháng 7/2009) đến hết năm 2012, vốn điều lệ của VietinBankSc giữ nguyên ở mức 789,9 tỷ đồng (trong đó VietinBank mẹ nắm giữ 76%). Do không tăng vốn, công ty đã tụt từ vị trí thứ 7 (năm 2010) xuống vị trí thứ 12 về quy mô vốn điều lệ trên thị trường chứng khoán Việt Nam vào cuối năm 2012, đứng sau SSI (3.537,9 tỷ đồng), Agriseco (2.120 tỷ đồng), KLS (2.025 tỷ đồng), ACBS, SBS, MB, HSC, SHS, VNDirect, BSC và VPBS.

2. Tỷ lệ an toàn vốn khả dụng (CAR) của VietinBankSc đạt mức nào và được cấu thành ra sao?
Tại thời điểm ngày 30/06/2012, tỷ lệ an toàn vốn khả dụng của VietinBankSc đạt 501%, cao gấp gần 2,8 lần so với ngưỡng quy định tối thiểu của UBCKNN (180%). Tỷ lệ này được xác định dựa trên vốn khả dụng đạt 829,4 tỷ đồng và tổng giá trị rủi ro ở mức thấp là 165,5 tỷ đồng (gồm 90 tỷ đồng giá trị rủi ro thị trường, 25 tỷ đồng rủi ro thanh toán và 50 tỷ đồng rủi ro hoạt động).

3. Cơ cấu nguồn vốn của công ty có đặc điểm gì nổi bật giai đoạn 2010–2012?
VietinBankSc duy trì mức độ tự chủ tài chính rất cao khi tỷ số vốn chủ sở hữu luôn dao động từ 59,3% đến 80,2% (năm 2010 đạt 79,2%, năm 2011 là 59,3%, năm 2012 là 80,2%). Tỷ số nợ năm 2012 chỉ là 19,8%, thấp hơn nhiều mức trung bình ngành (47%). Đáng chú ý, nợ ngắn hạn chiếm từ 96% đến 99% tổng nợ và công ty hoàn toàn không sử dụng nợ vay dài hạn; các khoản nợ ngắn hạn thực chất là chậm trả phí giao dịch, chiếm dụng vốn ngắn hạn của trung tâm lưu ký và tiền giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư chưa rút chứ không phải nợ vay ngân hàng.

4. Khóa luận rút ra những bài học kinh nghiệm cụ thể nào từ trường hợp của Morgan Stanley?
Từ quá trình tái cơ cấu của Morgan Stanley sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008–2009, khóa luận rút ra 5 bài học cho VietinBankSc: chủ động bổ sung vốn tự có kịp thời; hạn chế đầu tư rủi ro và thoái vốn khỏi các lĩnh vực ngoài ngành phi cốt lõi; tập trung vào các mảng nghiệp vụ truyền thống có thế mạnh (như môi giới và bảo lãnh phát hành); thực hiện triệt để công tác cắt giảm, tiết kiệm chi phí vận hành; gia tăng lượng dự trữ tiền gửi ngân quỹ để bảo đảm an toàn thanh khoản.

5. Kết quả kinh doanh và thị phần môi giới của VietinBankSc biến động như thế nào trong giai đoạn nghiên cứu?
Năm 2011, công ty đạt hơn 63 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế (tăng 195% so với năm 2010); năm 2012 đạt gần 73 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế (tăng 13,85% so với năm 2011), nằm trong top 5 công ty chứng khoán niêm yết có lợi nhuận cao nhất. Doanh thu môi giới sau khi giảm mạnh 63,65% vào năm 2011 đã hồi phục 68,22% trong năm 2012, đạt 31,504 tỷ đồng. Thị phần môi giới năm 2012 đạt khoảng 2,7% toàn thị trường; số lượng tài khoản quản lý đạt 51.518 tài khoản (tăng 5.210 tài khoản so với năm 2011).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Kim Thủy Tiên là công trình nghiên cứu tài chính thực chứng hoàn chỉnh, phản ánh trung thực và chi tiết thực trạng năng lực tài chính của Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam giai đoạn đầy biến động 2010–2012. Tác giả đã vận dụng tốt hệ thống lý luận tài chính doanh nghiệp chứng khoán và các quy định pháp lý của ngành để làm rõ điểm mạnh về kiểm soát rủi ro, duy trì khả năng thanh khoản và hệ số an toàn vốn khả dụng CAR vượt trội, đồng thời chỉ ra điểm nghẽn lớn về quy mô vốn điều lệ và việc chưa tận dụng đòn bẩy tài chính. Các giải pháp và kiến nghị được xây dựng có tính định hướng thực tiễn cao, đóng góp tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác quản trị tài chính tại công ty cũng như hoạt động học tập, nghiên cứu chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng.