CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về hoạt động bảo lãnh của ngân hàng thương mại 1. Khái quát về ngân hàng thương mại Theo Peter Rose trong cuốn “ Commercial Bank Management” thì “ Ngân hàng là tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Theo định nghĩa này, ngân hàng là một tổ chức tài chính bao gồm nhiều chức năng.
Đối với mô hình ngân hàng hiện đại ngày nay, ngân hàng có các chức năng cơ bản bao gồm: Chức năng tín dụng, chức năng thanh toán, lập kế hoạch đầu tư, chức năng tiết kiệm, chức năng quản lý tiền mặt, chức năng ủy thác, v.v… Đứng trên phương diện các các hoạt động chủ yếu, ngân hàng được định nghĩa theo Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội khóa XII thông qua ngày 16/06/2010 như sau: “ Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo Quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.” Hoạt động Ngân hàng được quy định trong Luật các tổ chức tín dụng bao gồm: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Thông qua các hoạt động của mình, ngân hàng thương mại ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Về căn bản, vai trò của Ngân hàng thương mại bao gồm: - Vai trò trung gian: Ngân hàng là một tổ chức tài chính trung gian chuyển các khoản tiết kiệm từ các tổ chức, cá nhân có nguồn vốn nhàn rỗi thành các khoản cấp tín dụng cho các tổ chức kinh doanh và các thành phần kinh tế khác để đầu tư. - Vai trò thanh toán: Ngân hàng được sự ủy nhiệm của khách hàng để thực hiện việc thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ.
Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là ngành công nghệ thông tin đã góp phần làm đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ của các ngân hàng thương mại, đặc biệt là 4 mảng dịch vụ thanh toán điện tử. Theo chiến lược phát triển thanh toán điện tử không dùng tiền mặt của Chính phủ, ngân hàng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam. - Vai trò người bảo lãnh: Ngân hàng cũng là đơn vị có vai trò bảo lãnh cho khách hàng khi tham gia các hợp đồng kinh tế. Ngân hàng cam kết thực hiện trả nợ cho khách hàng khi khách hàng mất khả năng thanh toán ( mở LC, bảo lãnh phát hành trái phiếu doanh nghiệp, bảo lãnh vay vốn) hay thực hiện bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu cho khách hàng v.v… - Vai trò thực hiện chính sách: Mục tiêu chính của ngân hàng thương mại là kinh doanh và có lợi nhuận.
Tuy nhiên, với vai trò là thành phần quan trọng trong hệ thống tài chính tiền tệ của mỗi quốc gia, ngân hàng thương mại cũng góp phần vào việc thực hiện các chính sách kinh tế của Chính phủ, góp phần vào sự tăng trưởng của nền kinh tế cũng như thực hiện các mục tiêu xã hội khác. Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động bảo lãnh của Ngân hàng thương mại Theo quan điểm của ngành Marketing thì một sản phẩm mới ra đời cần thiết phải có sự hội tụ của 3 yếu tố, đó là: phát sinh nhu cầu, khả năng cung ứng và sự cho phép của luật pháp. Đối với hoạt động bảo lãnh, manh nha sự ra đời của nó bắt nguồn từ thời kì trung cổ tại Hy Lạp. Khi đó, bảo lãnh được các cá nhân sử dụng như một công cụ để phòng ngừa rủi ro trong các hoạt động thương mại và các giao dịch hết sức sơ khai với nhau.
Đến những năm 60 của thế kỷ XX, hoạt động bảo lãnh ngân hàng mới bắt đầu xuất hiện ở Mỹ và đến những năm 70 thì nó mới chính thức được sử dụng trong hoạt động thương mại quốc tế. Như vậy ba yếu tố dẫn đến sự ra đời và hình thành của hoạt động bảo lãnh ngân hàng cụ thể là gì? Những chỉ dẫn dưới đây sẽ làm rõ điều đó. Thứ nhất, sự phát sinh nhu cầu bảo lãnh. Sự phát triển của xã hội loài người trong quan hệ thương mại và tín dụng đã làm nảy sinh những nhu cầu mới.
Khi quan hệ thương mại và tín dụng phát triển càng mạnh mẽ, những mối quan hệ chằng chịt phát sinh và thậm chí vượt qua biên giới của mỗi vùng, mỗi quốc gia thì sự 5 thiếu hụt về thông tin và dẫn đến sự thiếu tin tưởng và tín nhiệm của đối tác cũng hình thành. Đương nhiên, sau đó các rủi ro tiềm tàng càng nhiều và khả năng xảy ra tổn thất càng lớn. Do đó, để hạn chế rủi ro trong kinh doanh thì cần có một công cụ để ngăn ngừa nó. Hình thức tín dụng chứng từ (L/C) hay bảo đảm hối phiếu, v.
đã hạn chế, kiểm soát rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế. Tuy nhiên, các điều khoản khác trong hợp đồng kinh tế cũng cần được bảo đảm thực hiện – đó chính là cơ sở hình thành của hoạt động bảo lãnh. Thứ hai, khả năng cung ứng. Các ngân hàng thương mại với chức năng là trung gian tài chính, tiềm lực tài chính mạnh, có mối quan hệ sâu rộng với mọi thành phần của nền kinh tế nội địa cũng như quốc tế có khả năng cung ứng sản phẩm bảo lãnh cho các thành phần khác nhau của nền kinh tế.
Thứ ba, sự cho phép của pháp luật: Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đều xây dựng một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh lĩnh vực hoạt động bảo lãnh. Đối với Việt Nam, khi hệ thống ngân hàng còn duy trì hình thức một cấp, hoạt động bảo lãnh ngân hàng ban đầu được thực hiện qua Ngân hàng Ngoại thương. Sau đó, khi chuyển đổi mô hình từ ngân hàng một cấp thành hai cấp thì hoạt động bảo lãnh đã được nhiều ngân hàng khác triển khai và đẩy mạnh phát triển. Ngân hàng Nhà nước đã ban hành hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật để tạo hành lang pháp lý thuận lợi cũng như chặt chẽ trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng.
Cụ thể: - Quyết định số 192/QĐ-NH ngày 17/09/1992 của thống đốc Ngân hàng Nhà nước về bảo lãnh vay vốn nước ngoài; - Quyết định số 196/QĐ-NH14 ngày 16/09/1994 của Ngân hàng Nhà nước về Quy chế nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng; - Quyết định số 283/2000/QĐ-NHNN14 ngày 25/08/2000 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước v.v ban hành quy chế bảo lãnh ngân hàng; - Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/06/2006 v/v ban hành quy chế bảo lãnh ngân hàng - đây là quyết định đang có hiệu lực hiện nay và thay thế các quyết định trước đó. Trong Quyết định số 26 đã làm rõ hơn một số điểm và khắc phục hạn chế của các quy định được ban hành trước đó ví dụ như việc quy định các 6 hồ sơ khách hàng phải cung cấp khi đề nghị bảo lãnh, quy định về việc khách hàng và ngân hàng có thể tự thỏa thuận mức phí bảo lãnh thay vì quy định rõ mức phí không được vượt quá 2%/số tiền bảo lãnh/năm như trong Quyết định 283 trước đây. Khái niệm và đặc điểm hoạt động bảo lãnh ngân hàng 1. Khái niệm Trong từ điển pháp luật Mỹ, “bảo lãnh là sự thỏa thuận, theo đó người bảo lãnh chấp nhận sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên nợ chỉ khi bên nợ không trả nợ, là việc bên bảo lãnh đảm bảo hoặc hứa việc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện” Khái niệm về bảo lãnh ngân hàng cũng được nêu rõ trong khoản 1 điều 2 Quyết định số 26/QĐ-NHNN ngày 26/06/2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước: “ Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của Tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.
Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay” Luật các TCTD số 47/2010/QH12 được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 16/06/2010 định nghĩa về hoạt động bảo lãnh ngân hàng như sau: “ Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận”. Như vậy, trong quan hệ bảo lãnh ngân hàng có ít nhất 3 chủ thể tham gia, đó là: Bên bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh. Bên bảo lãnh: Trong quan hệ bảo lãnh ngân hàng, bên bảo lãnh chính là các tổ chức tín dụng. Điều 3 của Quyết định số 26 nêu rõ tổ chức tín dụng được thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh bao gồm: Các tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng, các ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước cho phép 7 hoạt động thanh toán quốc tế được phép thực hiện các loại bảo lãnh mà bên nhận bảo lãnh là các tổ chức và cá nhân nước ngoài.
Bên được bảo lãnh: Chủ thể này chính là các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có đủ điều kiện để được bảo lãnh do các tổ chức tín dụng đề ra. Bên nhận bảo lãnh: chính là các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước được quyền thụ hưởng các cam kết bảo lãnh của các tổ chức tín dụng. Bảo lãnh ngân hàng đã tạo ra mối liên kết trách nhiệm tài chính và san sẻ rủi ro giữa các chủ thể. Trách nhiệm tài chính trước hết thuộc về khách hàng ( bên được bảo lãnh), trách nhiệm của ngân hàng (bên bảo lãnh) chỉ là thứ cấp khi khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ đối với bên thứ ba ( bên nhận bảo lãnh).