Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG DẠY TOÁN Ở CÁC LỚP ĐẦU CẤP TIỂU HỌC THEO NHÓM 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Từ những năm đầu thế kỉ XX, dạy học tương tác bằng hoạt động nhóm được nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu và phát triển trong trường học.
Dựa trên ý tưởng tất cả cùng làm việc, chia sẻ thông tin với nhau để đạt được mục đích cuối cùng John Amos Comenius (1592-1670) đưa ý tưởng này vào lớp học và cho rằng HS sẽ học được nhiều hơn từ cách thức học tập như thế. Ý tưởng này cũng được xây dựng, phát triển và sử dụng rộng rãi tại Anh vào những năm cuối của thập niên 70 do Joseph Lancaster và Andrew Bell áp dụng. Năm 1806, để giảm tính cạnh tranh trong trường học, các nhà giáo dục ở Mỹ đã sử dụng và phát triển rất nhanh các phương pháp dạy học theo nhóm nhóm. Một trong những người đầu tiên đã thực hiện rất thành công ý tưởng dạy học theo nhóm nhóm vào lớp học là Colonel Francis Parker.
Sau đó phương pháp tổ chức dạy học theo nhóm của ông được nhiều nhà giáo tham khảo học tập. Ông không tin sự cạnh tranh trong trường học sẽ đạt được hiệu quả cao hơn so với sự chia sẻ suy nghĩ thông tin về vấn đề học tập ở HS (Marr, 1997; Johnson và Johnson, 1994). Các phương pháp của Parker đều liên quan đến việc làm cách nào HS có thể hợp tác với nhau trong học tập (cooperatively learning). Người có cùng tư tưởng với Colonel Francis Parker là James Coleman (1959), ông đề xuất: thay việc thiết lập các tình huống khuyến khích cạnh tranh trong học tập nhà giáo dục nên tạo ra các hoạt động để HS cùng nhau hợp tác (trích dẫn từ www.org/lp/pages/4653).
John Dewey, nhà giáo dục theo xu hướng thực dụng Mỹ, được coi là người đầu tiên khởi xướng ra xu thế dạy học theo nhóm vào đầu những năm 1900. Ông cho rằng: trẻ em học được nhiều điều thông qua giao tiếp, học tập sẽ hứng thú hơn đối với trẻ khi được tham gia các hoạt động và rút ra kinh nghiệm cho mình. 7 Chính John Dewey đã đưa các hình thức hoạt động nhóm học tập vào lớp học nhằm dạy cho con người cùng sống, cùng làm việc với nhau. Người thứ hai có ảnh hưởng lớn đến việc dạy học theo nhóm theo nhóm là nhà tâm lí học xã hội Kurt Lewin (Đức – Mỹ).
Bài báo “Cooperative learning: An overview from Psychological and cultural perspective” của tài liệu hội thảo “Về đào tạo giáo viên và phương pháp dạy học hiện đại”, viện Nghiên cứu Sư phạm Hà Nội (2007) đã viết (Wilbert J. McKeachie, 1999): Kurt Lewin – nhà khoa học được coi là cha đẻ của tâm lý học xã hội. Ông là người có ảnh hưởng chính đến sự hình thành và phát triển của trào lưu “Tương tác nhóm” vào đầu những năm 1940. Ông đề ra “thuyết phụ thuộc lẫn nhau trong xã hội” hay còn gọi là “thuyết tương tác xã hội” dựa trên cơ sở của Kurt Koffka, người đã đề xuất khái niệm “Nhóm là phải có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các TV”.
Trong thập niên 1920 – 1930, Kurt Lewin đã đưa ra khái niệm nhóm phải có hai yếu tố: 1) Phải có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các TV, nhóm phải năng động hơn, có tác động tích cực đến các TV; 2) Tình trạng căng thẳng giữa các TV trong nhóm là động lực để thúc đẩy hoàn thành mục tiêu. Sau đó, Morton Deutsch tiếp tục xây dựng và mở rộng lí luận về sự phụ thuộc lẫn nhau trong xã hội nhằm hoàn thiện lý thyết hoạt động nhóm, ông xây dựng một lí thuyết về hợp tác và cạnh tranh. Lí thuyết của Morton Deutsch được mở rộng và áp dụng cho giáo dục, đặc biệt là các vận dụng của chính tác giả tại trường Đại học Minnesota. Ngoài ra còn có một số nhà tâm lí và giáo dục học như: Aronson, hai anh em nhà Johnson.
Đặc biệt là Elliot Aronson với mô hình lớp học Jigsaw được sử dụng đầu tiên ở Austin Texas vào năm 1971. Jigsaw dựa trên nhu cầu thiết yếu lúc bấy giờ: giảm sự căng thẳng xung đột sắc tộc giữa các HS khác màu da và loại bỏ cạnh tranh cá nhân trong lớp học, mô hình này yêu cầu các HS phải biết chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm với nhau để cả nhóm học tập đạt kết quả tốt nhất. Jigsaw đã đánh dấu một bước ngoặc quan trọng trong việc hoàn thiện các 8 hình thức tổ chức hoạt động nhóm theo nhóm trong dạy học. Năm 1989, hai anh em nhà Johnson đã khảo sát và nghiên cứu 193 trường hợp và nhận thấy: học theo nhóm theo nhóm thì HS học hỏi được nhiều hơn so với cách học truyền thống.
Robert Slavin, Kagan, Sholmo, Sharan cũng đã chứng minh được tính hiệu quả của PPDH theo hướng tạo cơ hội cho HS hợp tác trong việc hình thành các kĩ năng xã hội, phát triển tư duy nhận thức và khả năng hòa nhập với thế giới xung quanh. Ngoài ra phải kể đến nghiên cứu của Astin với 200 trường Cao đẳng – Đại học về sự tương tác giữa người học và người học, giữa người dạy và người học là cơ sở để phát huy tính tích cực, khả năng giao tiếp, tư duy, các hành vi xã hội khác ở người học. Vào năm 1996, lần đầu tiên PPDH hợp tác chính thức được áp dụng trong một số trường Đại học ở Mỹ, và hội nghị nghiên cứu vấn đề học theo nhóm lần đầu được tổ chức tại Minneapolis (www.edu/coop_learning/ch3/default. Trong 30 năm gần đây các luận án, luận văn, bài viết nghiên cứu về lĩnh vực này rất nhiều và đa dạng, thậm chí còn có một số website đào tạo GV trực tuyến về vấn đề học theo nhóm hay giới thiệu các cấu trúc hoạt động học theo nhóm: www.com;…Có thể tham khảo một số nghiên cứu như: • 1900s: John Dewey, Kurt Lewin, Jean Piaget, Lev Vygotsky.
• 1960 - 1961: Stuart Cook: Nghiên cứu về hợp tác (Research on cooperation); Madsen (Kagan): Nghiên cứu về hợp tác và cạnh tranh ở trẻ (Research on cooperation & competition in children); Bruner, Suchman: Khám phá về học tập bằng hoạt động (Inquiry Learning Movement); B. Skinner: Lập trình học tập, sự thay đổi hành vi (Programmed learning, behavior modification). • 1966: David Johnson, U of MN: Đào tạo giáo viên dạy học theo nhóm (Begins training teachers in Cooperative Learning). • 1970: David Johnson: Tâm lý xã hội trong giáo dục (Social Psychology of Education).
• 1973: David DeVries & Keith Edwards: Dạy học kết hợp giữa trò chơi và sự cạnh tranh giữa các nhóm (Combined instructional games approach with intergroup competition, teams-games-tournament). • 1974-1975: David & Roger Johnson: Nghiên cứu về sự hợp tác và cạnh tranh (Research review on cooperation & competition); David & Roger Johnson: Học tập tập thể và cá nhân (Learning Together and Alone). • 1975: Annual Symposium at APA (David DeVries & Keith Edwards, David & Roger Johnson, Stuart Cook, Elliot Aronson, Elizabeth Cohen, others); Robert Slavin: Chương trình phát triển DHTN (Begins development of cooperative curricula); Spencer Kagan: Hoạt động nhóm ở trẻ (Continued research on cooperation among children). • 1976: Shlomo &Yael Sharan: Dạy học nhóm nhỏ (Small Group Teaching).
• 1978: Elliot Aronson: Lớp học ghép hình (Jigsaw Classroom), Journal of Research & Development in Education, CooperationIssue); JeanneGibbs: Nhóm(Tribes). • 1981, 1983: David & Roger Johnson: Phân tích tổng hợp các nghiên cứu về dạy học theo nhóm (Meta-analyses of research on cooperation). • 1985: Elizabeth Cohen: Thiết kế nhóm làm việc (Designing Groupwork); Spencer Kagan: Phát triển cấu trúc dạy học theo nhóm (Developed structures 10 approach to cooperative learning). • 1989: David & Roger Johnson: Hợp tác và cạnh tranh (Cooperation & Competition-Theory & Research).
• 1996: Hội thảo “Vai trò lãnh đạo trong học tập hợp tác" (First Annual Cooperative Learning Leadership Conference), Minneapolis. Như vậy PPDH hợp tác theo nhóm được hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn bởi nhiều nhà nghiên cứu giáo dục và tâm lí học, chúng tôi nhận rõ tính hiệu quả và tính khả thi cao khi áp dụng hình thức dạy học này vào trong giáo dục ở một số nước trên thế giới cũng như giáo dục ở Việt Nam với mọi cấp học. Ở Việt Nam Ở Việt Nam phương pháp dạy học theo nhóm được đề cập trong nhiều nghiên cứu. Trần Văn Đạt trong bài báo (Đỗ Đình Hoan, 2003) đã khẳng định ưu điểm của PPDH hợp tác; vai trò của GV không chỉ là người chuyển tải thông tin, giải thích sự kiện mà là người hoạch định, quản lí, quan sát, theo dõi và giúp đỡ sinh viên trong quá trình tổ chức học theo nhóm.
Bài viết cũng nêu nhược điểm của PP này nếu GV đứng lớp không làm tròn vai trò của mình. Tác giả Nguyễn Thị Phương Hoa trong bài báo (N. Hoa, 2005) (Lê Thị Minh Huê) đã đưa ra khái niệm, ý nghĩa, một số hình thức tổ chức hoạt động trong lớp, tiêu chuẩn đánh giá khả năng làm việc nhóm. Tác giả Trần Thị Bích Trà (www.org) đã đề cập nhiều đến những khó khăn, bất cập khi sử dụng PPDH hợp tác đồng thời tác giả đã vạch ra hướng khắc phục để có thể nâng cao hiệu quả học theo nhóm ở trường phổ thông.
Trong bài viết của Nguyễn Thị Quỳnh Hương, Tạp chí Giáo dục số 190 (kì 2 – 5/2008) (Lê Thị Minh Huê), tác giả khẳng định “nhóm có thể tạo môi trường làm việc tập thể - nơi mà mỗi cá nhân đều được giao trách nhiệm và có quyền hạn, có thể khuyến khích mọi người làm việc nhiệt tình hơn”. 11 Năm 2010, bài viết “Dạy học theo nhóm – một xu hướng mới của giáo dục thế kỉ XXI”, của tác giả đăng trên kỉ yếu hội nghị khoa học, khoa Hóa học – trường ĐHSP TP. Xcatkin, 1980) đã nêu những đặc trưng, ưu điểm và hạn chế của DHTN, đồng thời cũng cung cấp những kinh nghiệm sử dụng phương pháp này, giúp cho những ai quan tâm đến PPDH hợp tác dễ định hướng và thành công khi áp dụng vào giảng dạy thực tế. Bài viết trên trang web https://tusach.com/wiki (tháng 9 năm 2017) (Nguyễn Thị Quỳnh Phương, 2008) đã giới thiệu PPDH hợp tác trong nhóm nhỏ.
Theo tác giả, phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng nhằm giúp cho mọi HS tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết các vấn đề có liên quan đến nội dung bài học; tạo cơ hội cho các em được giao lưu, học hỏi lẫn nhau; cùng nhau hợp tác giải quyết những nhiệm vụ chung. Trong luận án tiến sĩ giáo dục học của Hoàng Lê Minh, trường ĐHSP Hà Nội (Gmy Palmade, 1999), tác giả đã nêu cách tổ chức, thiết kế giờ học theo nhóm trong môn Toán ở trường THPT và có minh hoạ cụ thể.