Mở đầu - Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh tế - xã hội trong đầu tƣ xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nƣớc - Chƣơng 2: Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội trong đầu tƣ xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nƣớc tại địa bàn thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long - Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội trong đầu tƣ xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nƣớc trên địa bàn thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long - Kết luận và kiến nghị 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. LÝ THUYẾT VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƢ BẰNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Khái niệm đầu tƣ, đặc điểm và vai trò vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản 1. Khái niệm đầu tƣ Đầu tƣ là hoạt động hết sức quan trọng đối với sự tăng trƣởng và phát triển kinh tế.
Các nhà kinh tế học đã đƣa ra nhiều khái niệm đầu tƣ: Nhà kinh tế R.Gordon (1994) cho rằng: đầu tƣ là đƣa thêm sản phẩm cuối cùng vào kho tài sản vật chất sản sinh ra thu nhập của quốc gia hay thay thế các tài sản vật chất cũ đã hao mòn. Đầu tƣ bao gồm đầu tƣ tồn kho và đầu tƣ cố định [4]. Tác giả Pierrce Conso cho rằng, khái niệm đầu tƣ cần đƣợc xét trên từng quan điểm. Theo quan điểm kinh tế thì đầu tƣ làm tăng vốn cố định, tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp trong nhiều kỳ kinh doanh nối tiếp.
Theo quan điểm tài chính, đầu tƣ là quá trình làm bất động hoá một số vốn nhằm thu lợi nhuận trong thời kỳ tiếp sau. Theo quan điểm kế toán, khái niệm đầu tƣ gắn liền với việc phân bổ các khoản vốn đầu tƣ vào mục đích chi cố định, trong thời gian nhất định phục vụ cho công tác quản lý kết quả đầu tƣ [4]. Theo Điều 3 Luật đầu tƣ “Đầu tƣ là việc nhà đầu tƣ bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tƣ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan [15]. Khái quát lại “Đầu tƣ là quá trình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thu đƣợc các kết quả, thực hiện đƣợc những mục tiêu nhất định trong tƣơng lai”.
Trong đó các nguồn lực sử dụng có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Những kết quả đạt đƣợc có thể là sự gia tăng tài sản vật chất, tài sản tài chính hoặc là tài sản trí tuệ và nguồn lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn cho nền kinh tế và cho toàn bộ xã hội. Đầu tƣ phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tƣ, là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất (nhà xƣởng, thiết bị.) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ năng.), gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển [9]. Đầu tƣ phát triển đòi hỏi rất lớn nhiều loại nguồn lực.
Theo nghĩa hẹp, nguồn lực sử dụng cho đầu tƣ phát triển là tiền vốn. Theo nghĩa rộng, nguồn lực đầu tƣ bao gồm cả tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc thiết bị, tài nguyên. Nhƣ vậy, khi xem xét lựa chọn dự án đầu tƣ hay đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tƣ phát triển cần tính đúng, tính đủ các nguồn lực tham gia. Xây dựng cơ bản là hoạt động có chức năng tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các TSCĐ có tổ chức sản xuất và không có tổ chức sản xuất thuộc các lĩnh vực, thông qua các hoạt động xây dựng mới, xây dựng mở rộng, xây dựng lại, hiện đại hoá hay khôi phục các TSCĐ.
Đầu tƣ xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân là một bộ phận của đầu tƣ phát triển. Đây chính là quá trình bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng 7 cơ bản nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng ra các tài sản cố định trong nền kinh tế [7]. Do vậy, đầu tƣ xây dựng cơ bản là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nền kinh tế nói chung và của các cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng. Khái quát lại: Đầu tƣ xây dựng cơ bản là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định đƣa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhằm thu đƣợc lợi ích với nhiều hình thức khác nhau.
Đầu tƣ xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân đƣợc thông qua nhiều hình thức xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế. Xây dựng cơ bản là hoạt động cụ thể tạo ra các tài sản cố định (khảo sát, thiết kế, xây dựng, lắp đặt máy móc, thiết bị) kết quả của các hoạt động XDCB là các tài sản cố định, với năng lực sản xuất phục vụ nhất định. Khái niệm vốn đầu tƣ Theo Luật đầu tƣ: Vốn đầu tƣ là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tƣ theo hình thức đầu tƣ trực tiếp hoặc đầu tƣ gián tiếp [15]. Vốn đầu tƣ là tiền tích luỹ của xã hội, của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân và vốn huy động từ các nguồn khác nhau nhƣ liên doanh, liên kết hoặc tài trợ của nƣớc ngoài.
để tái sản xuất, duy trì hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, đổi mới và bổ sung các cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, cho các ngành hoặc các cơ sở kinh doanh dịch vụ. Vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN là một phần của vốn đầu tƣ phát triển của NSNN đƣợc hình thành từ sự huy động của nhà nƣớc dùng để chi cho đầu tƣ XDCB nhằm xây dựng và phát triển cơ sở vật chất – kỹ thuật và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cho nền kinh tế quốc dân. Vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN là bộ phận quan trọng của vốn đầu tƣ trong nền kinh tế quốc dân, đồng thời là nguồn lực tài chính công rất quan trọng của quốc gia. Dƣới góc độ ngân sách nguồn lực tài chính quốc gia, vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN là bộ phận của quỹ NSNN trong khoản chi đầu tƣ của NSNN hàng năm đƣợc bố trí cho đầu tƣ vào các công trình, dự án XDCB của nhà nƣớc.
Đặc điểm và vai trò của vốn đầu tƣ ngân sách nhà nƣớc - Vốn đầu tƣ XDCB từ ngân sách gắn với hoạt động NSNN nói chung và chi NSNN nói riêng, gắn với quản lý và sử dụng vốn theo phân cấp về chi NSNN cho đầu tƣ phát triển. - Vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN đƣợc sử dụng chủ yếu để đầu tƣ cho các công trình, dự án không có khả năng thu hồi vốn và công trình hạ tầng theo đối tƣợng sử dụng theo quy định của Luật NSNN. Do đó, việc đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn mang tính toàn diện, trên cơ sở đánh giá tác động cả về kinh tế, xã hội và môi trƣờng. - Vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN gắn với quy trình đầu tƣ rất chặt chẽ từ khâu chuẩn bị đầu tƣ, thực hiện dự án đến khâu kết thúc đầu tƣ và đƣa vào sử dụng.
- Vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN rất đa dạng. Căn cứ tính chất, nội dung, đặc điểm của từng giai đoạn trong quá trình XDCB ngƣời ta phân loại vốn thành nhiều loại nhƣ vốn chuẩn bị đầu tƣ, vốn thực hiện đầu tƣ. 8 - Nguồn hình thành vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN bao gồm cả nguồn trong quốc gia và bên ngoài quốc gia. - Chủ thể sử dụng vốn XDCB từ NSNN gồm các cơ quan nhà nƣớc và tổ chức ngoài nhà nƣớc.
Đặc điểm, vai trò của đầu tƣ XDCB đối với nền kinh tế quốc dân 1. Đặc điểm của đầu tƣ ngân sách nhà nƣớc - XDCB chủ yếu tập trung vào việc xây dựng các cơ sở kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội nhằm phục vụ cho sự ổn định và phát triển kinh tế của một quốc gia. Sản phẩm của XDCB thƣờng là các công trình xây dựng đòi hỏi vốn lớn. Muốn đáp ứng đƣợc điều đó, các quốc gia phải phát huy mọi nguồn lực trong nƣớc nhƣ: tiết kiệm từ nội bộ của nền kinh tế, huy động mọi nguồn lực từ các tầng lớp dân cƣ, vốn xã hội, đồng thời phải tìm cách để thu hút các nguồn từ bên ngoài nhƣ: vốn ODA, FDI, NGO.
- XDCB có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật đặc trƣng, đƣợc thể hiện rất rõ ở sản phẩm xây lắp. Các sản phẩm xây lắp thƣờng có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian sử dụng lâu dài, có giá trị lớn đòi hỏi các nhà xây dựng phải dự đoán truớc xu hƣớng tiến bộ xã hội để tránh bị lạc hậu. Phong cách kiến trúc và kiểu dáng một sản phẩm cần phải chú ý phù hợp với văn hoá dân tộc. Sản phẩm XDCB không chỉ mang ý nghĩa kinh tế kỹ thuật mà còn mang tính nghệ thuật, nó còn phản ánh trình độ kinh tế, trình độ khoa học kỹ thuật và trình độ của từng giai đoạn lịch sử nhất định của một đất nƣớc.
Chất lƣợng công trình cần đặc biệt chú ý vì nó ảnh hƣởng đến tuổi thọ lâu dài của công trình và sự an toàn của ngƣời sử dụng. - Sản phẩm của XDCB mang tính đặc biệt và tổng hợp của nhiều ngành khác nhau nhƣ kiến trúc, kết cấu xây dựng, vật liệu xây dựng,. Mỗi công trình đều có đặc điểm riêng nhất định. Ngay trong một công trình kết cấu các phần cũng không hoàn toàn giống nhau.
Ngoài ra, kết quả của đầu tƣ XDCB là những công trình xây dựng nhƣ nhà máy, công trình công cộng, trụ sở làm việc, nhà ở, cầu cống, sân bay, cảng biển. có tính cố định gắn liền với đất đai. - Đầu tƣ XDCB thuộc lĩnh vực có mức độ rủi ro cao do thời gian xây dựng kéo dài, thời gian hoàn vốn chậm và chịu ảnh hƣởng của nhiều yếu tố tác động về kinh tế - chính trị - xã hội và thiên nhiên nhƣ bão, lụt, thiên tai.mà các nhà đầu tƣ khó có thể lƣờng hết.