CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 1.1 Động lực làm việc Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về động lực làm việc. Động lực được hình thành khi người lao động kỳ vọng rằng họ sẽ nhận được kết quả, phần thưởng như mong muốn nếu họ nỗ lực thực hiện công việc (Vroom, 1964). Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình (Mitchell, 2001). Động lực có thể được định nghĩa như là một động lực bên trong có thể kích thích, khuyến khích cá nhân nỗ lực nhằm đạt mục tiêu để thực hiện một số nhu cầu hoặc mong đợi (Mullins, 2002).
Theo tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2007): “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức”. Động lực lao động xuất phát từ trong nội tại suy nghĩ của người lao động. Động lực lao động được thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi người lao động đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tổ chức. Với những công việc có tính chất khác nhau thì thường động lực lao động sẽ khác nhau để đảm bảo người lao động làm việc tích cực hơn.
Có thể rút ra một cách hiểu chung nhất về động lực lao động: Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động.2 Tạo động lực làm việc cho nhân viên Theo tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2007) thì tất cả những chính sách, hoạt động được doanh nghiệp thực hiện nhằm nâng cao tinh thần, thái độ, khả năng làm việc của nhân viên được gọi là tạo động lực làm việc cho nhân viên. Lợi ích tạo ra động lực làm việc cho nhân viên hay có thể hiểu rằng muốn tạo động lực thì phải gắng nó với lợi ích. 123doc 9 Việc tạo động lực cho nhân viên được xem là rất quan trọng với doanh nghiệp mà cụ thể chính là việc doanh nghiệp sử dụng một hệ thống các chính sách để nhân viên hăng say, nỗ lực đóng góp cho công việc, tăng động lực làm việc của họ.3 Vai trò của động lực làm việc Động lực làm việc có vai trò rất quan trọng không chỉ đối với người lao động mà cả đối với doanh nghiệp: Động lực làm việc giúp cho người lao động: - Nỗ lực hoàn thiện mình thông qua công việc.
- Khi có trong mình động lực tích cực, nhân viên sẽ có tâm lý làm việc tốt, năng suất làm việc tăng lên, từ đó góp phần tăng thu nhập cho họ. Người quản cần thấy được sự quan trọng của vấn đề nâng cao động lực cho người lao động. Chính sách lương, thưởng, phúc lợi có thỏa mãn hay không? Công việc có hợp lý hay không?. Tất cả những điều này có thể sẽ ảnh hưởng đến sự hăng say làm việc hay hoạt động trì trệ, bất mãn của người lao động.
Do vậy, người quản lý muốn khích lệ, động viên nhân viên thì cần đưa ra chính sách và thực thi hợp lý để khích lệ, nâng cao động lực cho nhân viên của mình. Ở góc nhìn của một doanh nghiệp, mục tiêu lớn nhất, quan trọng nhất và luôn theo đuổi chính là năng suất lao động và hiệu quả công việc. Để đạt được mục tiêu đó, thì không ai khác, nhân sự chính là yếu tố quan trọng nhất. Vì vậy các doanh nghiệp cần có chính sách phù hợp để tăng tinh thần làm việc cho người lao động, có các chính sách nhằm động viên, khuyến khích để họ nỗ lực làm việc, gắng bó lâu dài với doanh nghiệp.
Khi một người hăng say làm việc, thì hiệu quả công việc sẽ tăng lên rất nhiều. Tạo động lực cho nhân viên của mình chính là giải pháp hiệu quả và khôn ngoan của doanh nghiệp vì vừa tăng năng suất làm việc, chi phí thấp, lại vừa giữ chân được lao động. Từ đó góp phần tăng hình ảnh của doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp thu hút được nhiều người tài hơn nữa.4 Lĩnh vực viễn thông và đặc điểm kinh doanh của lĩnh vực này đến động lực làm việc Viễn thông là việc truyền dẫn thông tin giao tiếp qua một khoảng cách đáng kể để về địa lý. Một hệ thống viễn thông bao gồm ba thành phần chính: Bộ phát nhận thông tin vào và chuyển thành tín hiệu; môi trường truyền dẫn truyền tín hiệu đi; bộ thu nhận tín hiệu và chuyển thành thông tin hữu ích.
Viễn thông hiện đại ngày nay bao gồm các mảng như điện thoại, vô tuyến truyền hình, internet và mạng nội bộ. Đặc điểm kinh doanh: - Khách hàng đa dạng nên cần phải giao tiếp tốt, thái độ phục vụ ân cần, vui vẻ. - Việc chăm sóc và thu hút khách hàng là một trong những ưu tiên hàng đầu - Nhân viên phải khéo léo và bình tĩnh trước phàn nàn, phản ánh của khách hàng. - Áp lực công việc cao nên nên các công ty viễn thông nên có chính sách hợp lý để giữ chân nhân viên 1.5 Các lý thuyết về động lực làm việc của nhân viên 1.1 Học thuyết nhu cầu của Maslow (1943) Theo Maslow (1943), bất kỳ hành vi nào của con người đều bắt nguồn từ nhu cầu của họ.
Con người có rất nhiều nhu cầu mong muốn được thỏa mãn theo một trình tự từ thấp đến cao. Có năm nhu cầu bao gồm: nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu về xã hội, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu hoàn thiện. - Nhu cầu sinh lý: là nhu cầu cơ bản nhất để con người tồn tại như thở, ăn, uống, nghỉ ngơi, phát triển giống nòi. - Nhu cầu an toàn: là nhu cầu đảm bảo an toàn về tính mạng, vật chất, công việc, sức khỏe.
- Nhu cầu về xã hội: là nhu cầu mong muốn được được tham gia vào tổ chức hay tập thể, được công nhận, được yêu, có bạn bè. 123doc 11 - Nhu cầu được tôn trọng: là nhu cầu được đánh giá, được người khác tôn trọng, nhu cầu tự đánh giá, và tôn trọng người khác. - Nhu cầu hoàn thiện: nhu cầu được phát triển toàn diện, nhu cầu chân, thiện, mỹ. Theo Maslo (1943), khi một nhu cầu được thỏa mãn thì sẽ không còn tạo động lực nữa và nếu nhu cầu phía dưới được đáp ứng, thỏa mãn thì khi đó con người sẽ bắt đầu mong muốn thỏa mãn nhu cầu phía trên sát đó.
Ví dụ như con người cần nhu cầu an toàn khi nhu cầu sinh lý đã được đáp ứng, và khi đó nhu cầu sinh lý không còn là động lực tác động lên họ nữa. Do vậy, để tạo được động lực cho nhân viên thì điều vô cùng quan trọng của người quản lý chính là phải biết được nhân viên đó đang ở nhu cầu nào. Mỗi người đều có nhu cầu và hành động theo nhu cầu. Khi nhu cầu đã được đáp ứng và thỏa mãn, họ sẽ hài lòng và thúc đẩy họ hành động.
Do vậy, nhu cầu trở thành động lực quan trọng đối với mỗi người và chúng ta có thể thay đổi hành vi của mỗi người khi chúng tác tác động vào nhu cầu của họ. Nói cách khác, người lãnh đạo có thể dùng các biện pháp, các công cụ để gây ảnh hưởng, tác động đến kỳ vọng hay nhu cầu, mong muốn của nhân viên, từ đó thay đổi, điều chỉnh hành vi của nhân viên, khiến họ hăng hái, phấn chấn và tận tụy hơn với công việc được giao phó.2 Học thuyết hai yếu tố của Herzberg (1959) Herzberg (1959) thực hiện phỏng vấn 200 kế toán và kỹ sư của ngành công nghiệp và đưa ra lý thuyết hai yếu tố về sự thỏa mãn trong công việc và tạo động lực, ông chia các yếu tố thành 2 nhóm: Nhóm nhân tố bên trong (nhóm nhân tố động viên) và nhóm nhân tố bên ngoài (nhóm nhân tố duy trì). Nhóm nhân tố bên trong liên quan đến sự thỏa mãn của nhân viên và nhóm nhân tố bên ngoài liên quan đến bất mãn của nhân viên. Nhóm 1 bao gồm các yếu tố có tác dụng tạo động lực và sự thỏa mãn trong công việc: Sự thành đạt, sự thừa nhận thành tích, bản chất bên trong công việc, trách nhiệm trong công việc được giao, sự thăng tiến.
Đó là các yếu tố thuộc 123doc 12 về công việc và về nhu cầu bản thân của người lao động. Các nhân tố này khi được đáp ứng sẽ tạo sự thỏa mãn, ngược lại nếu không được đáp ứng thì sẽ không thỏa mãn chứ có thể không tạo ra sự bất mãn. Khi các nhu cầu này được thỏa mãn thì sẽ tạo được động lực cho người lao động. Nhóm 2 bao gồm các yếu tố thuộc về môi trường tổ chức, nhóm này giúp chúng ta phòng ngừa sự không hài lòng, thỏa mãn của nhân viên.
Nhưng nếu nhóm này được đáp ứng thì sẽ không tạo ra sự thỏa mãn, tăng động lực cho nhân viên. Nhóm 2 bao gồm các yếu tố: các chế độ và chính sách quản trị của công ty, sự giám sát công việc, tiền lương, thưởng, các mối quan hệ con người trong tổ chức, các điều kiện làm việc.3 Học thuyết kỳ vọng của Vrom (1964) Học thuyết kỳ vọng của Victor Vrom cho rằng con người sẽ được thúc đẩy và thực hiện hành động nếu họ kỳ vọng rằng hành động này đạt được kết quả như mong đợi và giá trị của kết quả đó khi đạt được. Công thức của thuyết kỳ vọng của Victor Vrom: Hấp lực x Mong đợi x Phương tiện = Sự động viên. Hấp lực (phần thưởng): Giá trị, sức hấp dẫn của kết quả, mục tiêu.
Mong đợi (thực hiện công việc): niềm tin của nhân viên rằng nếu họ sẽ thu được một kết quả nào đó nếu họ nỗ lực làm việc. Phương tiện (niềm tin): niềm tin của nhân viên rằng khi họ hoàn thành nhiệm vụ thì chắc chắn họ sẽ nhận được phần thưởng. Học thuyết của Vrom cho rằng một sự nỗ lực nhất định sẽ đạt được thành tích nhất định và thành tích đó sẽ dẫn tới một kết quả hoặc phần thưởng như mong muốn. Khi một người không quan tâm tới việc đạt được mục tiêu nhất định thì mức mong đợi coi như bằng không và sẽ có một mức mong đợi âm khi con người chống lại việc đạt được mục tiêu đó.
Và khi đó, kết quả của cả hai trường hợp đều là không có động cơ thúc đẩy.