CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHO VAY QUA TỔ VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và hoạt động theo định chế trung gian mang tính chất tổng hợp. Các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng, ngân hàng thương mại hình thành trên cơ sở của sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá. Khi sản xuất phát triển thì nhu cầu trao đổi mở rộng sản xuất giữa các vùng lãnh thổ, giữa các quốc gia tăng lên, để khác phục sự khác biệt về tiền tệ giữa các khu vực thì thì xuất hiện các thương gia làm nghề đổi tiền.
Khi trao đổi hàng hoá phát triển quay trở lại kích thích sản xuất hàng hóa. Cùng với sự phát triển đó, các nghiệp vụ được phát triển dần như giữ tiền hộ, chi trả hộ. trên cơ sở đó thực hiện hoạt động tín dụng (Nguyễn Minh Kiều, 2008) Theo luật tổ chức tín dụng, khái niệm ngân hàng như sau: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gởi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán, và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan” (Luật tổ chức tín dụng Việt Nam, 2010). Cho vay, hiểu theo nghĩa chung nhất là việc một người thỏa thuận để cho người khác được quyền sử dụng tài sản của mình (vật cùng loại) trong một thời hạn nhất định với điều kiện có hoàn trả, dựa trên cơ sở sự tín nhiệm của mình đối với người đó.
(Nguyễn Đăng Dờn, 2010) Tuy nhiên, khái niệm cho vay của các tổ chức tín dụng có phần khác so với cách hiểu chung. Khái niệm này được quy định tại khoản 16 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47 2010 QH12: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc 8 có hoàn trả cả gốc và lãi.” (Luật các tổ chức tín dụng, 2010) Như vậy, một cách gọi khác của hoạt động cho vay là hoạt động cấp tín dụng của NHTM. Trong các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp thì dịch vụ tín dụng là một trong những dịch vụ truyền thống của ngân hàng thương mại. Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của các ngân hàng thương mại.
Dư nợ tín dụng thường chiếm trên 50% tổng tài sản của ngân hàng thương mại và thu nhập từ tín dụng thường chiếm từ 50% - 70% tổng thu nhập của ngân hàng thương mại. Bên cạnh việc mang lại thu nhập chính cho ngân hàng thì rủi ro trong kinh doanh ngân hàng cũng có xu hướng tập trung vào danh mục tín dụng.(Nguyễn Đăng Dờn, 2010) Hoạt động cho vay là một trong những hoạt động tín dụng của ngân hàng. Nó phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa một bên là người cho vay (NHTM) còn bên kia là người vay (khách hàng vay vốn). Nguyên tắc quản lý mục đích tiền vay: Người đi vay phải thế chấp tài sản để được vay tiền, nhưng người cho vay (ngân hàng thương mại) có quyền kiểm tra việc sử dụng vốn vay đối với người vay.
Người vay phải xây dựng dự án, phương án xin vay vốn và phải có trách nhiệm thực hiện theo đúng hợp đồng đã k với ngân hàng. Mục đích của việc đề ra nguyên tắc này là đảm bảo tính hoàn trả của đồng vốn, đồng thời quản lý vốn đầu tư theo đúng định hướng và cơ cấu đầu tư. Quản lý vốn đầu tư đúng định hướng từ đó đảm bảo tính cân đối trong nền kinh tế. Nguyên tắc hoàn trả: Vốn vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi cho ngân hàng sau thời gian vay vốn.
Thời gian vay vốn là khoảng thời gian kể từ khi người vay lĩnh tiền vay lần đầu tiên đến khi trả hết nợ gốc và tiền lãi. Nguyên tắc hoàn trả thể hiện ở hai khía cạnh: Khía cạnh thứ nhất là số lượng hoàn trả, số lượng hoàn trả sẽ bằng tổng số tiền gốc của khoản vay và số lãi phát sinh trong quá trình vay vốn. Khía cạnh thứ hai là thời gian hoàn trả, thời gian hoàn trả phải thực hiện theo thỏa thuận giữa hai bên được ghi trong hợp đồng vay tiền. Đặc điểm của hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Hoạt động cho vay có những đặc điểm sau: Về chủ thể tham gia: chủ thể bao giờ cũng có hai bên tham gia: Bên cho vay 9 - là người có tài sản chưa dùng đến, muốn cho người khác sử dụng để thỏa mãn một số lợi ích của mình và Bên vay - là người đang cần sử dụng tài sản đó để thỏa mãn nhu cầu của mình (về kinh doanh hoặc vốn).
Tính pháp lý của nghiệp vụ cho vay: Hoạt động cho vay của NHTM mang tính pháp l. Hình thức pháp l của việc cho vay được thể hiện dưới dạng hợp đồng tín dụng tài sản. Ngoài việc tuân thủ quy định chung của pháp luật về hợp đồng, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng còn chịu sự điều chỉnh, chi phối của cá đạo luật về ngân hàng, thậm chí kể các các tập quán thương mại về ngân hàng. Đặc điểm này, bị chi phối bởi tính chất đặc thù trong nghề nghiệp kinh doanh của các tổ chức tín dụng như tính rủi ro cao và sự ảnh hưởng mang tính chất dây chuyền đối với nhiều lợi ích khác trong xã hội.
Sự kiện cho vay phát sinh bởi hai hành vi căn bản là hành vi ứng trước và hành vi hoàn trả một số tiền (hay tài sản) nhất định là các vật cùng loại. Khi kết thúc hợp đồng khách hàng có nghĩa vụ trả ngốc và lãi hoặc một số thoả thuận khác nếu được ngân hàng cho vay chấp nhận. Trường hợp khách hàng không thực hiện hợp đồng hay không có một điều khoản nào khác thì tài sản đảm bảo thuộc quyền quyết định của ngân hàng cho vay. Việc cho vay bao giờ cũng dựa trên sự tín nhiệm giữa người cho vay đối với người đi vay về khả năng hoàn trả tiền vay.
Cho vay là hoạt động mang lại thu nhập chính cho các NHTM nhưng cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro. So với các hoạt động khác như huy động vốn hay thanh toán, hoạt động cho vay thường có mức độ rủi ro cao hơn. Hoạt động này nó có liên quan mật thiết với các ngành, lĩnh vực, đối tượng mà ngân hàng cấp tín dụng. Do vậy rủi ro trong hoạt động cho vay của các NHTM là rủi ro tiềm ẩn từ tất cả các ngành nghề các lĩnh vực mà ngân hàng cho vay.
Phân loại hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại có thể phân loại theo nhiều cách khác nhau. Thứ nhất, phân loại căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay thì cho vay của 10 NHTM bao gồm: - Cho vay sản xuất kinh doanh Cho vay sản xuất kinh doanh là loại cho vay mà tiền vay tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh. Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình bỏ vốn mua các yếu tố sản xuất sau đó thực hiện quá trình lao động để kết hợp các yếu tố sản xuất thành sản phẩm và tiêu thụ, sau đó tiếp tục quá trình tái sản xuất. - Cho vay tiêu dùng: Cho vay tiêu dùng là loại cho vay mà mục đích là để sử dụng vào tiêu dùng.
Thứ hai, phân loại căn cứ vào phương thức cho vay thì cho vay của NHTM bao gồm: - Cho vay từng lần: Áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vay vốn từng lần. Mỗi lần vay vốn, ngân hàng và khách hàng thực hiện thủ tục cho vay và ký kết Thỏa thuận cho vay. - Cho vay hợp vốn: Là việc Ngân hàng cùng với ít nhất một TCTD khách cho vay đối với khách hàng để thực hiện một phương án, dự án vay vốn. - Cho vay lưu vụ: Là việc Ngân hàng thực hiện cho vay đối với khách hàng để nuôi trồng, chăm sóc các cây trồng, vật nuôi có tính chất mùa vụ theo chu kỳ sản xuất liền kề trong năm hoặc các cây lưu gốc, cây công nghiệp có thu hoạch hàng năm.
Theo đó dư nợ gốc của chu kỳ trước tiếp tục được sử dụng cho chu kỳ sản xuất tiếp theo nhưng không vượt quá thời gian của 02 (hai) chu kỳ sản xuất liên tiếp. - Cho vay theo hạn mức: Ngân hàng xác định và thỏa thuận với khách hàng mức dư nợ cho vay tối đa được duy trì trong một khoản thời gian nhất định. Trong hạn mức cho vay, Ngân hàng thực hiện cho vay từng lần. Một năm ít nhất một lần xem xét xác định lại mức dư nợ cho vay tối đa và thời gian duy trì mức dư nợ này.
Phương thức này áp dụng cho khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên, ổn định. - Cho vay theo hạn mức dự phòng: Theo đó, Ngân hàng cam kết đảm bảo s n sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi mức cho vay dự phòng đã thỏa thuận. Thời hạn hiệu lực của hạn mức cho vay dự phòng không vượt quá 01 (một) năm. 11 - Cho vay theo hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán: Ngân hàng chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoàn thanh toán của khách hàng một mức thấu chi tối đa để thực hiện dịch vụ thanh toán trên tài khoản thanh toán.
Mức thấu chi tối đa được duy trì trong một khoản thồi gian tối đa 01 (một) năm. - Cho vay quay vòng: Ngân hàng và khách hàng thoa thuận áp dụng cho vay đối với nhu cầu vốn có chu kỳ hoạt động kinh doanh không quá 01 (một) tháng, khách hàng được sử dụng dư nợ gốc của chu kỳ hoạt động kinh doanh trước cho chu kỳ kinh doanh tiếp theo nhưng thời hạn cho vay không vượt quá 03 (ba) tháng. Thứ ba, phân loại căn cứ theo thời gian thì cho vay của NHTM bao gồm: - Cho vay ngắn hạn: Đây là những khoản cho vay có thời hạn tối đa 01 (một) năm. - Cho vay trung hạn: là khoản cho vay có thời hạn trên 01 (một) năm và tối đa 05 (năm) năm.
- Cho vay dài hạn: là những khoản cho vay có thời hạn trên 05 (năm) năm.