CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1.1 Cơ sở lý luận về hoạt động tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội 1.1 Tín dụng và tín dụng ngân hàng 1.1 Tín dụng Tín dụng ra đời từ khi xã hội có sự phân công lao động và xuất hiện chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Cùng với sự tan rã của chế độ công sản nguyên thuỷ, quan hệ sản xuất ra đời, phân hoá thành người giàu, người nghèo. Xu hướng của cải ngày một tập trung vào nhóm người có quyền lực, làm cho họ ngày càng trở nên giàu có, trong khi đó có nhiều người khác thu nhập thấp lại rất cần vốn. Để giải quyết mâu thuẫn trên, quan hệ tín dụng đã ra đời [1].
Quan hệ tín dụng ra đời ở giai đoạn đầu là tín dụng nặng lãi và phát triển từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến. Khi chủ nghĩa tư bản xuất hiện, quá trình sản xuất giản đơn với quy mô nhỏ được thay thế dần bằng quá trình tái sản xuất mở rộng với quy mô cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Các nhà tư bản đã tự thiết lập quan hệ tín dụng với nhau dưới hình thức hàng hoá hoặc tiền tệ, dần xo á bỏ chế độ cho vay nặng lãi [1]. Khi sản xuất hàng hoá phát triển, nhu cầu về vốn ngày càng lớn, quan hệ vay mượn trực tiếp giữa các nhà tư bản với nhau không thể đáp ứng được nhu cầu vốn phục vụ sản xuất kinh doanh (SXKD).
Trong khi đó nền kinh tế tại cùng một thời điểm thì có người thừa vốn lại muốn sinh lời. Vì vậy, tín dụng ngân hàng đóng vai trò trung gian huy động vốn và cho vay vốn. Cùng với sự phát triển kinh tế hàng hoá, tín dụng ngân hàng cũng đã phát triển và ngày càng phát triển giữ vai trò quan trọng nền kinh tế thị trường [1]. Thuật ngữ tín dụng đang được sử dụng phỗ biến hiện nay xuất phát từ gốc La Tinh - creditum, có nghĩa là sự tin tưởng, sự tín nhiệm.
Tín dụng (tiếng Anh là Credit) là cơ chế tạo điều kiện cho một người đi vay, ngay lập tức hoặc trong một thời gian xác 5 định, nhận được tiền để mua sắm tài sản hoặc dịch vụ, với hứa hẹn hoàn trả. Để bù đáp lại, người cấp vốn nói chung được hưởng một khoản thù lao (tiền lãi) [1]. Theo ngôn từ dân gian Việt Nam thì tín dụng là quan hệ vay mượn. Theo từ điển thuật ngữ tín dụng thì: tín dụng là một phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa người đi vay và người cho vay [2].
Trong quan hệ này người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hoá cho vay cho người đi vay trong một thời gian nhất định. Đến kỳ hạn trả nợ, người đi vay có trách nhiệm hoàn trả toàn bộ số tiền hoặc hàng hoá đã vay, có kèm hoặc không kèm một khoản lãi. Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học: “Tín dụng là sự vay mượn tiền mặt và vật tư, hàng hóa” [2]. Theo định nghĩa này, quan hệ vay mượn, cả tiền mặt lẫn hàng hóa đều xem là tín dụng.
Theo quan niệm của tác giả Lê Văn Tề: “Tín dụng không chỉ là sự vay mượn đơn thuần mà còn là sự vay mượn với sự tín nhiệm nhất định. Hay nói cách khác, tín dụng là quan hệ kinh tế vay mượn trên cơ sở sở lòng tin của người cho vay đối với người đi vay” [3]. Theo Các Mác: Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng sau một thời gian nhất định lại quay về với một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu [4]. Như vậy, tín dụng là một quan hệ xã hội giữa người cho vay và người đi vay, giữa họ có mối liên hệ với nhau thông qua sự vận động của giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc hiện vật.2 Tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các tổ chức tín dụng (TCTD) khác với các tổ chức, cá nhân.
Trong quan hệ tín dụng này, ngân hàng vừa là người đi vay, vừa là người cho vay. Khác với tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng không cung cấp tín dụng dưới hình thức hàng hoá [5]. Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng, một tổ chức chuyên doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là các tổ chức, đơn vị kinh tế - xã hội, các cơ quan Nhà nước và các tầng lớp dân cư. 6 Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có hiệu lực từ ngày 01/01/2011 (sửa đổi bổ sung năm 2017 có hiệu lực từ 1/1/2018) thì hoạt động tín dụng và cấp tín dụng của TCTD như sau: “Hoạt động tín dụng là việc TCTD sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng.
Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” [6], [7]. Như vậy, tín dụng ngân hàng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ tin cậy lẫn nhau trong việc vay và cho vay giữa các ngân hàng, các TCTD với các pháp nhân và cá nhân, được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi [8]. Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất, là hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại (NHTM) trong giai đoạn hiện nay. Việc phân loại tín dụng là rất cần thiết và phải có tính khoa học, không được phân loại một cách tuỳ tiện vì nó có ý nghĩa rất lớn.
Nó tạo điều kiện để các NHTM có biện pháp quản lý tốt số vốn cho vay, gắn việc cấp tín dụng với đối tượng cho vay, đồng thời giúp NHTM trong khai thác tạo nguồn vốn cũng như sử dụng vốn. Tuỳ theo tiêu chí phân loại người ta chia tín dụng thành nhiều loại khác nhau để quản lý vì mỗi loại tín dụng có những đặc thù riêng về cách thức chuyển giao vốn, luân chuyển vốn, thu hồi vốn. Sau đây là một số cách phân loại phổ biến [5], [8]: - Căn cứ vào thời gian cho vay: Căn cứ vào thời gian cho vay, tín dụng ngân hàng được chia thành tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. + Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, thường được sử dụng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng cá nhân.
Đây là hình thức tín dụng ít rủi ro cho ngân hàng vì trong 1 thời gian ngắn ít có biến động xảy ra và ngân hàng luôn dự tính được những biến động xảy ra đó. Nó bao gồm tín dụng chiết khấu, tín dụng thấu chi, tín dụng ứng trước và tín dụng bổ sung vốn lưu động. + Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Loại tín dụng này được dùng để cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi 7 mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ, các dự án vừa phải có thời gian thu hồi vốn nhanh.
+ Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm. Loại tín dụng này được sử dụng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn, có thời gian thu hồi vốn lâu hơn. - Căn cứ vào mục đích sử dụng: + Tín dụng phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hoá: là loại tín dụng được cung cấp cho các nhà doanh nghiệp, chủ thể kinh doanh để tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hoá. + Tín dụng tiêu dùng: là hình thức tín dụng sử dụng cho cá nhân để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng, được cung ứng dưới hình thức bằng tiền hoặc dưới hình thức bán chịu hàng hoá.
- Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng: + Tín dụng có đảm bảo: là loại tín dụng mà khi cho vay đòi hỏi người vay vốn phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người thứ ba. + Tín dụng không đảm bảo (tín chấp): là loại tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng.2 Tín dụng ngân hàng chính sách xã hội Tại Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 10/6/1993, Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, về việc tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, Đảng ta chủ trương có chế độ tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo, hộ chính sách, vùng nghèo, vùng dân tộc thiểu số, vùng cao, vùng căn cứ cách mạng; mở rộng hình thức cho vay thông qua tín chấp đối với các hộ nghèo… Để triển khai Luật các tổ chức tín dụng trong việc thực hiện chính sách tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách; các nghị quyết của Đại hội Đảng IX, nghị quyết kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá X về việc sớm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH), tách tín dụng ưu đãi ra khỏi tín dụng 8 thương mại; đồng thời thực hiện cam kết với Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) về việc thành lập Ngân hàng Chính sách; ngày 04/10/2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 78/2002/NĐ-CP về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg về việc thành lập NHCSXH trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo, tách khỏi Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.1 Chức năng, nhiệm vụ Ngân hàng Chính sách Xã hội NHCSXH được thành lập để thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Hoạt động của NHCSXH không vì mục đích lợi nhuận, được Nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán, tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0%, không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước.