Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lƣợng tín dụng tại Ngân hàng thƣơng mại. Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng chất lƣợng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quân đội, Chi nhánh Việt Trì. Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quân đội, Chi nhánh Việt Trì.
4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Lý luận chung về tín dụng tại Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm về tín dụng Theo Giáo trình quản trị NH của PETE S.ROSE - Nhà xuất bản tài chính thì “Tín dụng đƣợc coi là mối quan hệ vay mƣợn lẫn nhau giữa ngƣời cho vay và ngƣời đi vay trong điều kiện có hoàn trả cả vốn lẫn lãi sau một thời gian nhất định. Nói cách khác tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh tế mà trong đó mỗi cá nhân, hay một tổ chức nhƣờng quyền sử dụng một khối lƣợng giá trị hoặc hiện vật cho một cá nhân hay một tổ chức khác với những ràng buộc nhất định về thời gian hoàn trả, lãi suất, cách thức vay mƣợn và thu hồi” [PETE S.ROSE, Giáo trình quản trị NH, Nhà xuất bản tài chính] Trải qua quá trình phát triển đã có nhiều hình thức tín dụng khác nhau.
Ban đầu là tín dụng nặng lãi, tín dụng nặng lãi xuất hiện ở thời kỳ tan rã của chế độ công xã nguyên thủy. Sau đó, sự ra đời của phƣơng thức sản xuất tƣ bản cho thấy tín dụng nặng lãi không còn phù hợp nữa vì vậy hoạt động của nó ngày càng thu hẹp và tín dụng thƣơng mại xuất hiện. Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa, các chủ thể kinh tế muốn tiến hành sản xuất kinh doanh phải có một số vốn nhất định. Do đặc điểm của vốn là tuần hoàn theo công thức T- H- T và do tính chất thời vụ trong hoạt động sản xuất kinh doanh mà mỗi đối tƣợng có lúc thì thừa vốn, có lúc lại thiếu vốn.
Tuy nhiên, đối với các đối tƣợng có tính thời vụ thấp thì việc thiếu vốn tiền tệ với thời gian ngắn hơn và quy mô nhỏ hơn so với các chủ thể kinh tế có tính thời vụ cao. Đứng trên giác độ toàn bộ nền kinh tế quốc dân, thì tại một điểm nhất định sẽ có hiện tƣợng một nhóm chủ thể kinh tế có vốn tạm thời chƣa sử dụng trong khi một nhóm những chủ thể khác lại có nhu cầu vốn bổ sung tạm thời. Sở dĩ có hiện tƣợng nhƣ vậy là do chu kỳ sản xuất và tính chất thời vụ ở mỗi chủ thể kinh tế, mỗi ngành kinh 5 tế không giống nhau. Quá trình tái sản xuất là một quá trình liên tục trên cơ sở phân công và hợp tác trong toàn bộ hệ thống kinh tế, vì vậy khi mà chủ thể này thừa vốn thì sẽ có chủ thể khác thiếu vốn.
Đây là hiện tƣợng khách quan và đòi hỏi phải có cầu nối giữa nơi thừa và nơi thiếu vốn, vì vậy để khắc phục tình trạng này tín dụng ngân hàng ra đời để giải quyết những mâu thuẫn đó. Theo Luật các tổ chức tín dụng đã đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010 thì “Tín dụng ngân hàng là quan hệ bằng tiền tệ mà một bên là ngân hàng (một tổ chức chuyên kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ) và một bên là tất cả các tổ chức, cá nhân trong xã hội trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là ngƣời đi vay, vừa là ngƣời cho vay”[Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày16 tháng 6 năm 2011]. Trong nền kinh tế thị trƣờng, nhiều loại hình quan hệ tín dụng cùng tồn tại nhƣ tín dụng thƣơng mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nƣớc, tín dụng thuê mua, tín dụng tiêu dùng, tín dụng quốc tế. Trong đó tín dụng ngân hàng có thể đƣợc coi là quan hệ tín dụng quan trọng nhất, phổ biến nhất với nền kinh tế và thƣờng xuyên đƣợc quan tâm nghiên cứu.
Tuy nhiên, quan niệm phổ biến về tín dụng ngân hàng là việc cho vay của Ngân hàng thƣơng mại với các chủ thể của nền kinh tế. Có thể hiểu, cấp tín dụng là việc thoả thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, triết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Vai trò của tín dụng 1. Vai trò của tín dụng đối với nền kinh tế Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển: Tín dụng cho đến thời điểm hiện nay vẫn giữ chức năng kinh tế hàng đầu của các Ngân hàng Thƣơng mại.
Bất kỳ một tổ chức cá nhân nào muốn hoạt động sản xuất kinh doanh đƣợc diễn ra liên tục, đòi hỏi đều phải có vốn kinh 6 doanh (Vốn cố định và vốn lƣu động) và các nguồn vốn này đồng thời phải tồn tại dƣới ba giai đoạn: dự trữ, sản xuất và lƣu thông. Trong thực tế, sản xuất kinh doanh không phải lúc nào doanh nghiệp cũng cần một lƣợng vốn bình quân nhƣ nhau, nên hiện tƣợng thừa thiếu vốn tạm thời là tình trạng thƣờng xuyên xảy ra. Từ đó tín dụng đã góp phần điều tiết nguồn vốn, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn. Thứ nhất: Tín dụng Ngân hàng đóng góp vai trò quan trọng trong việc giải quyết vốn ứ đọng ở nơi này bù đắp sự thiếu hụt tạm thời ở nơi khác.
Tín dụng Ngân hàng lúc này sẽ đóng vai trò là trung tâm đáp ứng những nhu cầu vốn bổ sung cho đầu tƣ và phát triển. Nhƣ vậy, tín dụng vừa góp phần đẩy mạnh tốc độ tập trung và tích lũy vốn cho nền kinh tế, vừa giúp cho doanh nghiệp rút ngắn đƣợc thời gian huy động vốn cho đầu tƣ mở rộng sản xuất. Trong phạm vi đó, tín dụng giữ vai trò điều hòa vốn mà không làm tăng thêm hoặc giảm đi tổng nhu cầu trong nền kinh tế. Thứ hai: Tín dụng Ngân hàng góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trƣờng, các doanh nghiệp đƣợc giao quyền tự chủ trong xác định ba vấn đề kinh tế cơ bản là: sản xuất cái gì? sản xuất nhƣ thế nào? và sản xuất phục vụ cho đối tƣợng khách hàng nào? Nhƣng trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế, thì một vấn đề nữa cần phải đƣợc đặt ra đó là: cần phải tạo ra sự cân đối trong cơ cấu kinh tế giữa các vùng, lãnh thổ, giữa các ngành và trong nội bộ từng ngành, nhất là ở các ngành mũi nhọn và ngành kém phát triển nhƣng cần thiết cho nền kinh tế. Thông qua chính sách tín dụng, lãi suất sẽ đƣợc sử dụng nhƣ là một công cụ để điều tiết nhu cầu đầu tƣ cho phát triển, từ đó góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế chung. Thứ ba: Tín dụng Ngân hàng tác động đến chế độ hoạch toán kinh tế, là công cụ để bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có sử dụng vốn tín dụng phải chịu chi phí trả lãi nên phải tính toán hiệu quả chi phí sản xuất: đúng, đủ, kịp thời và chính xác nhằm giảm giá 7 thành sản phẩm, tăng vòng quay vốn để tạo ƣu thế cho bản thân doanh nghiệp mình trong cạnh tranh, sử dụng tối ƣu các nguồn lực của doanh nghiệp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động chung của cả nền kinh tế.
Cũng vì thế mà các ngành nghề có tỷ suất lợi nhuận trên đồng vốn bỏ ra cao thì sẽ thu hút đƣợc nhiều nguồn lực đầu tƣ vào do đó cơ cấu kinh tế sẽ bị dịch chuyển. Thêm vào đó, trong điều kiện hiện nay cùng với sự phân công hợp tác quốc tế ngày một sâu rộng thì quá trình điều tiết vốn không chỉ giới hạn trong phạm vi một quốc gia mà hình thành nên các quan hệ tín dụng quốc tế. + Tín dụng Ngân hàng góp phần thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp của nƣớc ngoài. Đây là nguồn vốn do các doanh nghiệp, cá nhân nƣớc ngoài chuyển vào trong nƣớc đầu tƣ trực tiếp tạo ra hàng hóa và dịch vụ.
+ Thông qua nghiệp vụ tín dụng ngân hàng, nền kinh tế trong nƣớc sẽ thu hút đƣợc một nguồn vốn lớn từ các khoản đi vay nƣớc ngoài: đây là nguồn vốn vay từ các tổ chức tài chính quốc tế lớn trên thế giới: IMF, ADB, WB. + Trong quan hệ kinh tế quốc tế giữa các doanh nghiệp, tổ chức trong nƣớc và các doanh nghiệp tổ chức nƣớc ngoài thì yếu tố không thể thiếu là hoạt động của các Ngân hàng. Thông qua các nghiệp vụ nhƣ: nghiệp vụ bảo lãnh, nghiệp vụ L/C… ngân hàng sẽ đóng vai trò là ngƣời trợ thủ đắc lực cho các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập và phát triển. Thứ tư: Tín dụng góp phần ổn định giá cả và tiền tệ.
Với chức năng tập trung, tận dụng những nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, tín dụng đã trực tiếp giảm lƣợng tiền mặt trong lƣu thông. Đó là một trong những biện pháp đƣợc xem là quan trọng trong việc giúp toàn bộ nền kinh tế nói chung giảm thiểu đƣợc những hậu quả do lạm phát gây ra là thông qua việc tác động vào hoạt động tín dụng. Mặt khác tín dụng còn tạo điều kiện mở rộng công tác thanh toán không dùng tiền mặt và thông qua công cụ lãi suất, tín dụng thực hiện đƣợc chức năng điều tiết đầu tƣ trong nƣớc thu hút 8 đầu tƣ nƣớc ngoài và thể hiện chính sách của Đảng và Nhà nƣớc trong từng giai đoạn cụ thể. Thứ năm: Tín dụng ngân hàng tác động tích cực đến quá trình cải thiện và nâng cao đời sống của dân cƣ; đặc biệt là dân cƣ nông thôn.