Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÕ CỦA HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Luật tổ chức VKSND năm 2002 thì VKSND thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Đây là chức năng hiến định của VKSND trong giai đoạn hiện nay và cũng là một nhiệm vụ mà VKSND vốn đảm nhiệm đã từ nhiều năm, ngay từ khi tổ chức tiền thân của nó là Viện công tố ra đời. Mặc dù vậy, cho đến nay, trong khoa học pháp lý nói chung, trong khoa học kiểm sát nói riêng và ngay cả trong thực tiễn hoạt động của VKSND vẫn chưa đạt được sự thống nhất cao về các vấn đề này cả trên phương diện khái niệm, nội dung, đối tượng và phạm vi của thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp cũng như mối quan hệ giữa chúng.
Điều này không chỉ ảnh hưởng đến nhận thức mà còn tác động trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể trong hệ thống các cơ quan tư pháp nói chung, cơ quan VKSND nói riêng. Để góp phần từng bước nâng cao hiệu quả và dần đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của công tác kiểm sát, điều không thể thiếu được là cần phải làm rõ từ trong nhận thức về các vấn đề cơ bản có liên quan đến các hoạt động chức năng này: Khái niệm thế nào là quyền công tố, thực hành quyền công tố, thế nào là kiểm sát các hoạt động tư pháp, đối tượng, nội dung, phạm vi cũng như mối quan hệ của chúng. Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố 1. Quyền công tố a) Khái niệm quyền công tố 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quyền công tố là một hoạt động tố tụng vì lợi ích công cộng đối với người phạm tội đã được biết đến ngay từ những thời đại xa xưa của xã hội loài người.
Cùng với thời gian, đến nay, quyền công tố đã trở thành một chế định pháp lý độc lập được thừa nhận chung trong luật tố tụng hình sự ở đa số các nước văn minh trên thế giới. Ở nước ta, về mặt lập pháp, thuật ngữ quyền công tố được ghi nhận lần đầu tiên trong Hiến pháp năm 1980 khi đề cập đến chức năng, nhiệm vụ của VKSND (tại cụm từ "thực hành quyền công tố"). Từ đó đến nay, trong khoa học và trong thực tiễn có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau về khái niệm cũng như các vấn đề có liên quan: đối tượng, phạm vi, nội dung, chủ thể thực hành của quyền công tố và theo đó là thực hành quyền công tố nhưng chưa có quan điểm nào được các cơ quan có thẩm quyền chính thức công nhận và cũng chưa có một văn bản nào của cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn một cách chính thức về các vấn đề này. Theo Từ điển tiếng Việt thì "công tố" có nghĩa là "điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Toà án".
Như vậy, theo từ điển tiếng Việt thì "công tố" được hiểu với các nội dung khác nhau bao gồm: Điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Toà án. Trong giới nghiên cứu khoa học, về khái niệm thế nào là quyền công tố có thể kể đến một số quan điểm như sau: Quan điểm thứ nhất: Là quan điểm cho rằng tất cả các hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật của VKSND đều là thực hành quyền công tố. Những người theo quan điểm này đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật của VKSND. Theo họ, công tố không phải là một chức năng độc lập của VKSND mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật của VKSND.
Theo tác giả, quan điểm này đã đánh đồng quyền công tố với quyền kiểm sát tuân theo pháp luật của VKSND và như vậy là không chính xác. Bởi vì, thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật là hai chức năng 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoàn toàn độc lập của VKSND. Mặc dù trong quá trình thực hiện, hai chức năng này có thể có những nội dung đan xen nhau, có quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại với nhau nhưng không phải trong mọi công tác thực hiện chức năng của VKSND, trong mọi hoạt động thực hiện chức năng của Kiểm sát viên đều bao hàm cả hai chức năng đó, có hoạt động chỉ nhằm thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và có hoạt động chỉ nhằm thực hiện chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật. Vì vậy, không thể phủ nhận tính độc lập của hai chức năng này về cả nội dung lẫn phạm vi áp dụng và vì vậy không thể đồng nhất chúng.
Quan điểm thứ hai: Quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước đưa các vụ việc vi phạm pháp luật nói chung ra trước Toà án để xét xử nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật. Ở Việt Nam, quyền này được giao cho VKSND. Quan điểm này có thể coi là quan điểm phổ biến trong ngành kiểm sát, đã được đưa vào giáo trình giảng dạy của Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội và thường xuyên được nhắc đến trong các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ và các báo cáo tổng kết thực tiễn của ngành kiểm sát. Theo quan điểm này thì đầu tiên quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực hình sự, về sau nó được mở rộng sang các lĩnh vực tư pháp khác và cho đến nay thì quyền công tố không chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự (TTHS) mà còn có cả trong các lĩnh vực tố tụng dân sự và các lĩnh vực tố tụng tư pháp khác.
Theo tác giả, quan điểm này quá mở rộng cả khái niệm, nội dung và phạm vi của quyền công tố, đã đồng nhất quyền công tố với những quyền năng khác của VKSND trong quá trình kiểm sát các hoạt động tư pháp (giải quyết các vụ án dân sự, hành chính, kinh tế và lao động…). Quan điểm thứ ba: Là quan điểm cho rằng quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực hình sự, là quyền của Nhà nước nhân danh công quyền truy tố kẻ phạm tội ra trước Toà án để xét xử và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên toà hình sự sơ thẩm (duy trì quyền công tố). Ở Việt Nam, quyền này được Nhà 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nước giao cho VKSND. Theo quan điểm này thì chỉ có duy nhất một chủ thể có quyền công tố - đó là VKSND, việc thực hiện quyền công tố chỉ diễn ra ở một lĩnh vực duy nhất là TTHS và cũng chỉ có ở một giai đoạn duy nhất của TTHS là giai đoạn xét xử sơ thẩm.
Theo tác giả, quan điểm này trái ngược với quan điểm thứ hai, đã quá thu hẹp không chỉ khái niệm, nội dung mà còn cả phạm vi của quyền công tố. Không những vậy, còn không phản ánh được bản chất của quyền công tố và hơn thế nữa còn nhầm lẫn giữa quyền công tố và thực hành quyền công tố bởi vì truy tố và buộc tội chỉ là một trong số các quyền năng, là một số hoạt động cụ thể trong số những hoạt động của VKSND ở giai đoạn xét xử sơ thẩm trong TTHS khi thực hành quyền công tố. Ngoài các quyền năng đó ra, VKSND còn có nhiều quyền năng khác nữa khi thực hành quyền công tố cả ở giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự và ở các giai đoạn khác. Quan điểm thứ tư: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Theo quan điểm này thì chủ thể thực hành quyền công tố không chỉ có VKSND mà còn có các cơ quan tiến hành tố tụng khác (Cơ quan điều tra, Toà án, Thi hành án). Và như vậy, quyền công tố có trong tất cả các giai đoạn từ điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án. Quan điểm này đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với nguyên tắc TTHS, đã nhầm lẫn giữa các chức năng cơ bản (buộc tội, gỡ tội, xét xử…). Quan điểm thứ năm: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho VKSND truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Cơ quan công tố có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội. Trên cơ sở đó, quyết định truy tố bị can ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên toà. Theo quan điểm này thì quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi vi phạm mà pháp luật hình sự coi là tội phạm; quyền công tố 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chỉ có trong lĩnh vực duy nhất là TTHS. Ở nước ta, quyền công tố được Nhà nước giao cho duy nhất VKSND, không có cơ quan nào có thể thay thế được.
Như vậy có thể thấy, về khái niệm quyền công tố có rất nhiều quan điểm khác nhau. Mỗi quan điểm trong số đó đều có những hạt nhân hợp lý của nó nhưng cũng đều bộc lộ những bất cập: Hoặc là đánh đồng quyền công tố với kiểm sát tuân theo pháp luật, coi quyền công tố chỉ là quyền năng của VKSND trong kiểm sát tuân theo pháp luật nên đã mở rộng phạm vi của quyền công tố sang các lĩnh vực khác ngoài TTHS; hoặc là quá thu hẹp phạm vi của quyền công tố, cho rằng quyền công tố chỉ có trong giai đoạn xét xử sơ thẩm; hoặc xác định không đúng chủ thể của quyền công tố… Với nhận thức của mình, tác giả ủng hộ quan điểm thứ năm nêu trên với khái niệm quyền công tố bởi các lý do sau: Thứ nhất, tác giả nhận thấy quan điểm này phù hợp với quan điểm truyền thống nghiên cứu lịch sử nhà nước - pháp luật về quyền công tố: "Quyền công tố là quyền của Nhà nước, nhân danh Nhà nước buộc tội đối với người có hành vi vi phạm mà pháp luật hình sự xem xét là tội phạm xâm hại trật tự chung của toàn xã hội".