CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC 1. Một số khái niệm liên quan đến nâng cao chất lượng nhân lực 1. Khái niệm nhân lực Nhân lực là khái niệm để nói đến con người, theo cách hiểu chung nhất: Nhân lực là toàn bộ khả năng thể lực và trí lực của con người tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động. Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh thì: Nhân lực là sức lực của con người nằm trong mỗi con người giúp cho con người có thể hoạt động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động (33,tr12). Theo Lê Thanh Hà thì: Nhân lực được hiểu là nguồn lực trong mỗi con người. Nó bao gồm cả thể lực, trí lực và tâm lực. Nó thể hiện ra bên ngoài bởi khả năng làm việc.
Nó bao gồm cả sức khỏe ( chiều cao, cân nặng, độ lớn, sức bền.), trình độ ( kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm), tâm lý, ý thức, mức độ cố gắng, sức sáng tạo, lòng đam mê. (18,tr8) Dựa trên quan niệm về nhân lực của các tác giả nêu trên, Trong khuôn khổ của đề tài nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm nhân lực trong phạm vi của đại lý thu bảo hiểm y tế. Như vậy, nhân lực làm đại lý thu bảo hiểm y tế là toàn bộ sức lực của nhân viên giúp cho nhân viên có thể thực hiện hoạt động của đại lý thu bảo hiểm y tế. Khái niệm chất lượng nhân lực Tổ chức muốn tồn tại và phát triển phải tiến hành một loạt các hoạt động một cách khoa học nhất.
Các công việc trong tổ chức hầu hết do con 11 người đảm nhiệm. Chất lượng nhân lực của tổ chức quyết định chất lượng của các hoạt động trong tổ chức. Trong nền kinh tế thị trường, chất lượng nhân lực cũng là một yếu tố cạnh tranh gay gắt giữa các tổ chức, chất lượng nhân lực của tổ chức cao đến đâu thì hoạt động của tổ chức trôi chảy đến đó, năng lực cạnh tranh của tổ chức được nâng cao. Theo Đỗ Văn Phức thì: Chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái, thể lực, trí lực, kỹ năng, phong cách đạo đức, lối sống tinh thần của nguồn nhân lực.
Nói cách khác, trình độ học ấn, tình trạng sức khỏe, trình độ chuyên môn kỹ thuật… thể hiện chất lượng nhân lực Theo đó: Trí lực là năng lực của trí tuệ là trình độ hiểu biết của người lao động, tồn tại bên trong con người như tài năng, năng khiếu do thiên bẩm và qua quá trình phấn đấu học tập, rèn luyện của mỗi cá nhân tạo nên. Thể lực của người lao động chỉ sức khỏe của cơ thể lẫn tinh thần. Thể lực là điều kiện duy trì và phát triển trí tuệ. Nó là phương tiện chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, biến tri thức thành sức mạnh vật chất.
Sức mạnh trí tuệ phát huy được lợi thế khi và chỉ khi thể lực con người được đảm bảo và phát triển. Phong cách đạo đức, lối sống tinh thần là các giá trị về đạo đức, tác phong, tính kỷ luật và tinh thần trách nhiệm trong công việc. Theo Bùi Văn Nhơn thì: Chất lượng nhân lực là trạng thái nhất định của nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Đó là yếu tố phản ánh trình độ kiến thức, kỹ năng và thái độ của người lao động trong quá trình làm việc.(11,tr 28) 12 Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, chất lượng nhân lực được hiểu là: Chất lượng nhân lực là mức độ đáp ứng yêu cầu công việc về kiến thức, kỹ năng và phẩm chất của nhân viên làm đại lý thu bảo hiểm y tế.
Khái niệm tổ chức Thuật ngữ “Tổ chức” được nhiều ngành khoa học sử dụng với ý nghĩa không giống nhau: Triết học định nghĩa “Tổ chức, nói rộng là cơ cấu tồn tại của sự vật. Sự vật không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung. Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật” (33,tr28) Luật học (khoa học luật dân sự) gọi tổ chức là pháp nhân để phân biệt với thể nhân (con người) là các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự. Theo quy định tại Điều 74 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau: được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Luật học nhấn mạnh đến các điều kiện thành lập tổ chức và các yêu cầu đảm bảo hoạt động của tổ chức; - Khoa học tổ chức và quản lý định nghĩa tổ chức với ý nghĩa hẹp là “tập thể của con người tập hợp nhau lại để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt tới một mục tiêu xác định của tập thể đó” (17,tr28). Quan niệm này có nhiều điểm tương đồng với Luật học, Quản trị công ở chỗ đều xác định tổ chức thuộc về con người, là của con người trong xã hội; vì là tổ chức của con người, có các hoạt động chung do vậy mục tiêu của tổ chức là một trong những điều kiện quan trọng, không thể thiếu của tổ chức. Trong cuốn “Sổ tay nghiệp vụ cán bộ làm công tác tổ chức nhà nước” định nghĩa: “Tổ chức là một đơn vị xã hội, được điều phối một cách có ý 13 thức, có phạm vi tương đối rõ ràng, hoạt động nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu chung (của tổ chức) (1,tr8). Quan niệm của những người làm công tác tổ chức nhà nước có nhiều điểm tương đồng với khoa học quản lý, luật học trong đó nhấn mạnh tới mục tiêu chung, nguyên tắc hoạt động của tổ chức (điều phối một cách có ý thức).
Điểm mới quan trọng của quan niệm này về tổ chức thể hiện ở ý nói về phạm vi của tổ chức, mỗi tổ chức có phạm vi hoạt động khác nhau phụ thuộc vào các yếu tố chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, cơ cấu, nguồn lực của tổ chức đó. Các yếu tố này là những điều kiện của tổ chức. Trên phương diện ngôn ngữ: Tuỳ theo ngữ cảnh, tính chất, yêu cầu, mục đích… có thể sử dụng các thuật ngữ: cơ quan, đơn vị, pháp nhân, công ty, hội… thay thế thuật ngữ tổ chức. Sự đa dạng trên phương diện ngôn ngữ còn thể hiện ở việc thuật ngữ tổ chức được dùng với các chức năng khác nhau như: là danh từ, là động từ, là tính từ (tiếng Anh Organization là danh từ, khác với Organize là động từ, khác với Constitutive là tính từ).
Từ những quan niệm về tổ chức nêu trên, tác giả cho rằng: Tổ chức là tập hợp của con người trong xã hội có phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, cơ cấu xác định; được hình thành và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định phù hợp với quy định pháp luật nhằm gắn kết con người với nhau bởi những mục đích xác định và hành động để đạt đến mục tiêu chung. Một số khái niệm về đại lý thu, nhân viên đại lý thu bảo hiểm y tế Đại lý thu BHYT: Theo Quyết định số 1599/QĐ-BHXH ngày 28/10/2016 của Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam Ban hành quy định hoạt động đại lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, Đại lý thu bảo hiểm y tế là: “Đại lý thu là tổ chức được cơ quan Bảo hiểm xã hội ký Hợp đồng Đại lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, gồm: Ủy ban nhân dân xã, phường, thị 14 trấn; đơn vị sự nghiệp; tổ chức chính trị - xã hội; tổ chức xã hội - nghề nghiệp và tổ chức kinh tế”. Như vậy, đại lý thu bảo hiểm y tế là một tổ chức được pháp luật công nhận tồn tại, hoạt động hợp pháp. Nhân viên đại lý thu: gọi chung cho người lao động được tổ chức ký hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật và đang tham gia bảo hiểm y tế hoặc bảo hiểm xã hội (người lao động làm việc thường xuyên trong tổ chức) được đại lý thu giới thiệu và bảo lãnh.
Như hiện nay tại huyện Đan Phượng có 82 đại lý thu, mỗi đại lý thu BHYT có một nhân viên đại lý hoạt động. Như vậy chủ thể nghiên cứu của tác giả: Nhân lực làm đại lý thu BHYT chính là số nhân viên làm đại lý thu BHYT. Đối tượng nghiên cứu là: Nhân viên đại lý thu BHYT làm việc tại các UBND các xã, thị trấn, hội phụ nữ, hội chữ thập đỏ, trung tâm y tế, bưu điện trên địa bàn huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội 1. Khái niệm nâng cao chất lượng nhân lực trong tổ chức Để nâng cao chất lượng nhân lực trong tổ chức thì cần phải sử dụng đến tổng thể các hoạt động, chính sách để làm cho chất lượng nhân lực được tốt hơn, đáp ứng yêu cầu công việc trong tổ chức.
Dưới góc độ nghiên cứu của đề tài, nâng cao chất lượng nhân lực làm đại lý thu bảo hiểm y tế là tổng thể các hoạt động, chính sách làm cho chất lượng nhân lực được tốt hơn, đáp ứng yêu cầu công việc của đại lý thu bảo hiểm y tế. Các tiêu chí đánh giá chất lượng nhân lực trong tổ chức Trong phạm vi của tổ chức, chất lượng nhân lực được đánh giá qua các yếu tố: Kiến thức của người lao động; kỹ năng của người lao động và phẩm 15 chất nghề nghiệp của người lao động trong sự so sánh với tiêu chuẩn kiến thức, kỹ năng và phẩm chất công việc mà người lao động đảm nhiệm. Có nhiều cách để đánh giá chất lượng nhân lực của một tổ chức, doanh nghiệp như: Đánh giá thông qua kết quả làm việc như doanh thu, lợi nhuận, hệ thống các chỉ tiêu đáp ứng tiêu chuẩn công việc.; Đánh giá chất lượng nhân lực thông qua mức độ đáp ứng tiêu chuẩn về kiến thức, kỹ năng, phẩm chất nghề nghiệp đối với nhân viên. Nâng cao chất lượng nhân lực thể hiện ở trí lực Nhóm 1: Tiêu chuẩn về kiến thức Kiến thức của người lao động được đánh giá thông qua trình độ học vấn và trình độ chuyên môn của người lao động.