Chương 1 CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỐT YẾU VỀ NGUỒN NHÂN LỰC 1. Những khái niệm cơ bản 1. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và những yêu cầu chủ yếu đối với nguồn nhân lực 1.Công nghiệp hóa, hiện đại hoá Công nghiệp hóa và hiện đại hóa là những khái niệm có tính lịch sử, nó chỉ xuất hiện khi nền sản xuất đã phát triển. Tuy nhiên hai khái niệm này không hình thành đồng thời.
Khái niệm công nghiệp hóa được xây dựng từ thế kỷ XVII - XVIII, đó là giai đoạn cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên được tiến hành ở châu Âu ; gắn với sự xác lập của nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh. Quan niệm chung nhất về công nghiệp hóa được hiểu là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động máy móc. Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội và sự phát triển của khoa học - công nghệ, khái niệm công nghiệp hóa có sự bổ sung phù hợp với từng giai đoạn phát triển sản xuất. Như vậy, công nghiệp hóa là một quá trình phát triển tất yếu của lịch sử phát triển nền sản xuất xã hội, nó tạo ra sự biến đổi mạnh mẽ không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà còn tác động tạo ra sự thay đổi toàn diện cả trong lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội.
Lịch sử công nghiệp hóa diễn ra không đồng đều, các quốc gia công nghiệp trên thế giới có quá trình công nghiệp hóa diễn ra ở các thời điểm khác nhau với quy mô, tốc độ khác nhau, với điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, từ hai vấn đề này, các quốc gia, các khu vực hình thành khoảng cách phát triển khác nhau, tạo ra sự lệ thuộc vào nhau trên nhiều phương diện. 16 Tuy xuất hiện sau và không đồng nhất về nội hàm, nhưng khái niệm hiện đại hóa luôn đồng hành, gắn bó với khái niệm công nghiệp hóa. Hiện đại hóa được hiểu là quá trình thay đổi trạng thái kỹ thuật, công nghệ và trình độ sản xuất đạt trình độ của thời đại hiện tại. Cùng với mặt kinh tế, thuật ngữ hiện đại hóa còn bao hàm cả khía cạnh xã hội, đó là quá trình xây dựng một xã hội phát triển văn minh.
Như vậy, có thể hiểu hiện đại hóa chính là quá trình làm cho trạng thái kỹ thuật, công nghệ và trình độ sản xuất đạt trình độ của thời đại ngày nay, đồng thời cũng là quá trình xây dựng xã hội phát triển văn minh - hiện đại. Hai mặt kinh tế - kỹ thuật và kinh tế - xã hội của khái niệm hiện đại hóa luôn gắn bó, bổ sung cho nhau, không tách rời, mặt này làm tiền đề và là điều kiện để mặt kia phát triển. Lịch sử tiến hành công nghiệp hóa và nhận thức về công nghiệp hóa luôn có sự thay đổi và sự bổ sung phù hợp với từng giai đoạn phát triển của xã hội. Như vậy, khái niệm công nghiệp hóa, không chỉ hiểu thuần túy về góc độ kinh tế - kỹ thuật mà còn bao gồm cả khía cạnh kinh tế - xã hội.
Đó là quá trình vừa xây dựng, phát triển các yếu tố kinh tế, đồng thời vừa xây dựng và phát triển các yếu tố văn hóa - xã hội, trong đó đặc biệt chú trọng yếu tố con người - nguồn lực con người, coi con người vừa là trung tâm, vừa là động lực của sự phát triển. Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội với xuất phát điểm thấp, lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém… Để phát triển và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ta cần phải xây dựng cho được cơ sở vật chất kỹ thuật cao bảo đảm cho nền kinh tế phát triển bền vững. Mặt khác, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội nhất thiết phải dựa trên cơ sở những thành tựu mới nhất, tiên tiến nhất của khoa học và công nghệ. Vì vậy bắt buộc ta phải tiến hành công nghiệp hóa.
Đảng ta coi đây là nhiệm vụ quan trọng nhất - nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã 17 hội ở nước ta. Đó cũng là quá trình thực hiện những nhiệm vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhằm cải biến một xã hội nông nghiệp thành một xã hội công nghiệp, gắn với việc hình thành từng bước quan hệ sản xuất tiến bộ thể hiện ngày càng đầy đủ hơn bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Là một quốc gia phát triển sau những nước đã thực hiện công nghiệp hóa thành công, Việt Nam có lợi thế, ở chỗ sẽ rút ra được những bài học kinh nghiệm về công nghiệp hóa. Vì vậy công nghiệp hóa ở Việt Nam không thể tiến hành tuần tự mà phải kết hợp hài hòa giữa công nghiệp hóa với hiện đại hóa.
Trong những thập kỷ 60 của thế kỷ XX, Đảng ta quan niệm công nghiệp hóa là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhưng khi đó chưa gắn với hiện đại hóa. Mặt khác, ở giai đoạn này, Đảng ta quá nhấn mạnh tính ưu tiên phát triển công nghiệp nặng…. Trong xu thế phát triển mới, Đảng đã nhận thức lại. Từ những nhận thức đúng đắn hơn về vai trò, vị trí của công nghiệp hóa, tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, và các kỳ Đại hội tiếp theo, Đảng ta khẳng định quan điểm có tính nhất quán: công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao[8, tr.
Khái niệm trên đây bao hàm cả nội dung hiện đại hóa, đồng thời chỉ rõ không bó hẹp trong lĩnh vực sản xuất - kinh doanh mà còn bao hàm cả trong lĩnh vực dịch vụ, quản lý kinh tế - xã hội. 18 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta không nên hiểu thuần túy về tốc độ, tỷ trọng của sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế mà còn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn liền với việc sử dụng nguồn nhân lực con người với trình độ và năng lực chuyên môn, kết hợp với công nghệ tiên tiến - hiện đại, tạo ra năng suất lao động cao, bảo đảm cho sự phát triển kinh tế bền vững… Trong điều kiện phát triển mới của Việt Nam hiện nay, theo chúng tôi, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một quá trình cải biến mang tính cách mạng sâu sắc về kinh tế và xã hội, gắn bó mật thiết với các quy luật và nhu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường, đồng thời không thể tách rời các quan hệ kinh tế quốc tế. Mục tiêu hàng đầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam là xây dựng nền tảng vật chất, kỹ thuật hiện đại, tạo cơ sở vững chắc cho quá trình phát triển và hoàn thiện hệ thống quan hệ sản xuất thích hợp với xu thế phát triển khách quan của nền kinh tế thị trường, đưa Việt Nam thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, trở thành một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Những điều kiện, tiền đề cần thiết cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa Như tôi nói ở trên, xét về bản chất, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam là một cuộc cách mạng kinh tế - xã hội sâu sắc, chứ hoàn toàn khổng chỉ, không phải là một “hiện tượng” thuần túy về phương diện kỹ thuật.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa tất yếu đòi hỏi những điều kiện, tiền đề cần thiết cho nó cả về phương diện sở hữu các nguồn lực, về cách thức phân bố và sử dụng các nguồn lực; về môi trường thể chế ngày càng mang tính dân chủ, khuyến khích sự sáng tạo trong phát minh và sử dụng, chuyển giao các tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ trực tiếp cho sản xuất – kinh doanh và cho hoạt động lãnh đạo, quản lý cả ở tầm vĩ mô và vi mô … Trong phạm vi của luận văn này, chúng tôi xin được tập trung vào một trong những điều kiện, tiền đề cơ bản – đó là nguồn nhân lực. 19 Để thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, vấn đề sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả được coi là một nội dung rất quan trọng, nhất là trong giai đoạn hiện nay, trong xu thế cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang phát triển với tốc độ vũ bão, tác động mạnh mẽ tới tất cả các hoạt động của xã hội, làm biến đổi nhanh chóng đời sống thế giới. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, nền kinh tế thế giới cũng vận động ngày càng nhanh theo xu hướng quốc tế hóa… Những vấn đề trên đòi hỏi tất cả các nước đều phải quan tâm sâu sắc tới yếu tố nguồn nhân lực. Vì vậy, việc bồi dưỡng, khai thác và sử dụng nguồn nhân lực cũng được Đảng, Nhà nước ta rất coi trọng.
Thực tế cho thấy chỉ có những người lao động có năng lực, trình độ mới có thể tác động, khai thác các nguồn nhân lực khác phục vụ cho sự phát triển, đồng thời còn góp phần tạo ra các nguồn lực mới. Từ những nhận thức cơ bản trên, có thể xem xét việc sử dụng nguồn nhân lực ở nước ta trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên những khía cạnh sau: Thứ nhất, phải xây dựng được nguồn nhân lực qua đào tạo với quy mô ngày càng lớn, chất lượng ngày càng được nâng lên, chú trọng đào tạo và sử dụng tốt nguồn nhân lực chất lượng cao. Thứ hai, phải kết hợp sử dụng hiệu quả lực lượng lao động đã qua đào tạo và lực lượng lao động chưa qua đào tạo, đồng thời phải đặt ra lộ trình phù hợp cho công tác đào tạo và đào tạo lại đối với lực lượng lao động chưa qua đào tạo theo hướng giảm nhanh tỷ trọng lao động chưa qua đào tạo, tăng nhanh đội ngũ lao động đã qua đào tạo. Thứ ba, khai thác và sử dụng ngày càng hiệu quả lực lượng lao động, phát huy mọi tiềm năng trí tuệ cùng với các yếu tố văn hóa, truyền thống dân tộc, tạo ra sự phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ.