CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC 1. Khái quát về chất lượng nguồn nhân lực trong tổ chức 1. Khái niệm Nguồn nhân lực Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm “Nguồn nhân lực”. Theo Liên hợp quốc: ”Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế, hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế-xã hội trong một cộng đồng” [22].
Theo các nhà khoa học tham gia chương trình KX-07: “Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động” [21]. Theo giáo trình “Nguồn nhân lực” của Nhà xuất bản Lao động xã hội: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội” [18]. - Theo giáo trình kinh tế nguồn nhân lực của trường Đại học Kinh tế Quốc dân do PGS. Trần Xuân Cầu, PGS.
Mai Quốc Chánh chủ biên “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [14]. Theo cách tiếp cận này, nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ 7 điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội. Tóm lại, nguồn nhân lực là nguồn lực con người, là tiềm năng lao động của mỗi con người trong một thời gian nhất định, là động lực nội sinh quan trọng nhất, được nghiên cứu trên số lượng, cơ cấu và chất lượng.
Thể hiện qua trí tuệ, thể lực và phẩm chất đạo đức, kỹ năng nghề nghiệp và sự tương tác giữa các cá nhân trong cộng đồng, là tổng thể các tiềm năng lao động của một ngành, một tổ chức, của địa phương hay một quốc gia. Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả mọi cá nhân tham gia vào các hoạt động trong tổ chức. Quy mô và cơ cấu nguồn nhân lực của một tổ chức phụ thuộc vào khối lượng của công việc quản lý cần giải quyết và cách thức các cá nhân thực hiện nhiệm vụ. Tùy thuộc vào quy mô và các yếu tố thuộc điều kiện bên trong, bên ngoài của tổ chức như: trình độ, cách thức quản lý nguồn nhân lực của các cán bộ quản lý, đặc điểm công việc, sự phức tạp của hoạt động, các quan hệ trong tổ chức, tình hình thị trường lao động và cạnh tranh, tình hình phát triển kinh tế đất nước, các chính sách KT-XH của Nhà nước…để lựa chọn quy mô, cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực phù hợp.
Khái niệm chất lượng Nguồn nhân lực Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, tiến bộ của khoa học công nghệ do đó chất lượng nguồn nhân lực không ngừng tăng lên. Sự tăng lên của chất lượng nguồn nhân lực cho phép nâng cao năng suất lao động, khối lượng sản phẩm sản xuất ngày càng nhiều, hoạt động cung cấp dịch vụ ngày càng thuận lợi. Nguồn nhân lực dồi dào nhưng chất lượng thấp sẽ dẫn đến năng suất lao động thấp, do đó hạn chế khả năng đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của xã hội ngày càng cao. Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố, bộ phận như: trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, kinh nghiệm, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ,… của người lao động.
Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực, tâm 8 lực là ba yếu tố quan trọng trong việc xem xét, đánh giá chất lượng nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức là tập hợp các yếu tố về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng, kinh nghiệm trong công việc, trình độ chính trị, giá trị đạo đức và lối sống của cơ quan, tổ chức. Chất lượng nguồn nhân lực được biểu hiện ở trí lực, thể lực, tâm lực. Trong đó: Thể lực nói lên tình trạng sức khỏe; trí lực nói lên trình độ văn hoá, chuyên môn, nghiệp vụ; tâm lực thể hiện ở tinh thần, thái độ, ý thức trong công việc.
Ba yếu tố trên thì thể lực là nền tảng và là cơ sở để phát triển được lao động, tâm lực là yếu tố chi phối hoạt động chuyển hóa trí lực vào thực tiễn, trí lực đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong việc cấu thành chất lượng nguồn nhân lực bởi chỉ có con người mới nghiên cứu sáng tạo ra những tiến bộ khoa hoạc kỹ thuật vào quá trình sản xuất. Nâng cao chất lượng Nguồn nhân lực về cơ bản là tăng giá trị của con người về phẩm chất đạo đức, thể chất, năng lực, thẩm mỹ để có thể hoàn thành tốt mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức, doanh nghiệp và chính bản thân họ. Bên cạnh đó, nâng cao chất lượng Nguồn nhân lực còn được biểu hiện ở hiệu quả quá trình lao động do lực lượng lao động thực hiện. Như vậy, nâng cao chất lượng Nguồn nhân lực chính là tăng cường sức mạnh và kỹ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất và năng lực tinh thần của nhân viên lên đến một trình độ nhất định để lực lượng này có thể hoàn thành được nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trong một giai đoạn phát triển nhất định của một quốc gia, doanh nghiệp, tổ chức.
Do đó chất lượng nguồn nhân lực chính là động lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế- xã hội. Thông qua chất lượng nguồn nhân lực thể hiện rõ trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, chất lượng cuộc sống dân cư hay mức độ văn minh của một xã hội. 9 Ngày nay trên thế giới, quá trình toàn cầu hóa mở rộng đã đưa nền kinh tế bước vào giai đoạn quá độ từ nền kinh tế dựa trên cơ sở vật chất kỹ thuật là đại công nghiệp cơ khí hóa sang nền kinh tế tri thức, trong đó tri thức là lực lượng sản xuất trực tiếp, thì việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phải luôn tiếp cận được kinh tế tri thức, là giải pháp đột phá trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cán bộ Đoàn là xây dựng một đội ngũ cán bộ Đoàn đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng trong đó chú trọng nâng cao chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, loại hình và ngày càng vững mạnh về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, có sức khỏe để đủ khả năng lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ thu hút, tập hợp, giáo dục toàn diện thanh thiếu nhi, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho địa phương và đất nước.
[3] Nguồn nhân lực cán bộ Đoàn là nguồn lực phải bảo đảm có chất lượng cao và là yếu tố có ảnh hưởng đối với chất lượng tổ chức và hoạt động Đoàn. Muốn đẩy mạnh công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi đáp ứng yêu cầu của cách mạng thời kỳ mới, phải đặc biệt coi trọng xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ Đoàn, nhất là đội ngũ cán bộ Đoàn chuyên trách. Đây chính là lực lượng chủ yếu giữ vai trò quyết định trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, trực tiếp tổ chức thực hiện các chương trình công tác của Đoàn tới đoàn viên thanh thiếu nhi. Đội ngũ này đóng vai trò nòng cốt, có tính quyết định trong việc định hướng và thực hiện mục tiêu của sự nghiệp giáo dục toàn diện thế hệ trẻ.
Đội ngũ cán bộ Đoàn có thể là công chức hoặc chưa là công chức nhà nước. Tỉnh đoàn cùng cấp ủy, chính quyền cơ sở là hai cơ quan song trùng quản lý. Do vậy, đội ngũ này không chỉ đảm bảo những yêu cầu của ngành dọc – Tỉnh đoàn mà còn phải đảm bảo các yêu cầu của cấp ủy và chính quyền 10 cơ sở. Như vậy, phát triển đội ngũ này phải có sự kết hợp hài hoà, chặt chẽ giữa hai cơ quan quản lý sao cho đảm bảo phát huy tối đa hiệu lực, hiệu quả hoạt động công tác Đoàn.
*Ý nghĩa của việc phát triển nguồn nhân lực CBĐ Đối với tổ chức, đơn vị Nâng cao hiệu quả công việc; Tạo cơ sở cho sự gia tăng năng suất lao động chung, tăng năng suất lao động nhóm; Tạo điều kiện áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào hoạt động công vụ; Tạo ra lực lượng lành nghề, thích nghi với những sự thay đổi trong hoạt động của tổ chức; Giảm thiểu công tác giám sát, kiểm tra. Đảm bảo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu, đặc điểm của tổ chức Đoàn. Đối với người lao động Đáp ứng nhu cầu về phát triển nghề nghiệp, thăng tiến trong tương lai; Tạo ra sự gắn bó với tổ chức; Tạo ra sự thích ứng giữa người lao động với công việc hiện tại cũng như trong tương lai; Tạo ra tính chuyên nghiệp, có cách nhìn và tư duy mới trong công việc; Tạo động lực làm việc cho người lao động nhằm giúp họ có thái độ tích cực và có động lực để làm việc, có cơ hội thăng tiến trong sự nghiệp 1. Các yếu tố cấu thành chất lượng Nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực là một khái niệm tổng hợp, bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, đạo đức và phẩm chất.
Nó thể hiện trạng thái nhất định của nguồn nhân lực với tư cách vừa là một khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và các quan hệ xã hội. Thể lực nguồn nhân lực Thể lực của nguồn nhân lực được thể hiện qua trạng thái sức khỏe của người lao động. Theo tổ chức Y tế Thế giới: “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không chỉ là không có bệnh hay thương tật”. Thể lực của con người chịu ảnh hưởng của mức sống vật chất, sự chăm sóc sức khỏe và rèn luyện của từng cá nhân cụ thể.