Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC 1. Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp 1. Chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp 1. Khái niệm, phân loại nguồn nhân lực Khái niệm: Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về nguồn nhân lực: Theo giáo trình nguồn nhân lực cho rằng:“Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp.
của mỗi cá nhân'". Như vậy ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: Tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Theo tổ chức Lao Động Quốc Tế ILO (International Labour Organization ) thì “Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao động” [5]. Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động của quốc gia, tổ chức/doanh nghiệp.
Do đó, nguồn nhân lực của tổ chức theo nghĩa hẹp là bao hàm những người trong độ tuổi và có khả năng lao động. Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn nhân lực con người cho sự phát triển của quốc gia, tổ chức/doanh nghiệp. Do đó, nguồn nhân lực của tổ chức/doanh nghiệp theo nghĩa rộng là bao hàm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động nhưng hiện còn đang tham gia lao động. download by : skknchat@gmail.com 9 Có thể nói: "Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm,năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của môi cá nhân và của đất nước" [17].
Phân loại nguồn nhân lực [17] Tuỳ theo từng giác độ nghiên cứu để phân loại nguồn nhân lực. * Căn cứ vào sự hình thành NNL được phân thành 3 loại: - Nguồn nhân lực có sẵn trong dân số (dân số hoạt động): bao gồm số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. - Nguồn nhân lực trong hoạt động kinh tế (dân số hoạt động kinh tế): bao gồm những người thuộc nguồn nhân lực sẵn có trong dân số hiện đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân và một bộ phận tuy chưa có việc nhưng có nhu cầu tìm việc làm. - Nguồn nhân lực dự trữ: bao gồm những người cũng trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng vì những lý do khác nhau mà họ không tham gia vào quá trình hoạt động kinh tế (ví dụ như sinh viên mới tốt nghiệp; phụ nữ sinh con; bộ đội xuất ngũ;.) * Căn cứ vào vai trò, vị trí của NNL được phân thành 3 loại: - Nguồn nhân lực chính: bao gồm những người lao động nằm trong độ tuổi lao động có khả năng lao động - Nguồn nhân lực phụ: bao gồm những người ngoài độ tuổi lao động.
Trong số này lại phân thành nguồn nhân lực phụ trên tuổi (nam từ 61đến 65 tuổi, nữ từ 56 đến 60 tuổi) và nguồn nhân lực phụ dưới tuổi (tuổi từ 12 đến 14). - Nguồn nhân lực bổ sung: dựa vào 3 nguồn chính là lực lượng quân đội hết nghĩa vụ, lực lượng hợp tác lao động với nước ngoài, học sinh, sinh viên. * Căn cứ vào chức năng công việc đảm nhiệm NNL trong doanh nghiệp được phân loại như sau: - Theo chức năng sản xuất, chế biến thì có: nhân công trực tiếp (là những lao động tham gia trực tiếp vào quá trình chế tạo sản phẩm) và nhân download by : skknchat@gmail.com 10 công gián tiếp (là những nhân công phục vụ cho những nhân công trực tiếp hoặc chỉ tham gia một cách gián tiếp vào quá trình sản xuất). - Theo chức năng lưu thông, tiếp thị: bao gồm bộ phận bán hàng, tiêu thụ sản phẩm và nghiên cứu thị trường.
- Theo chức năng quản lý hành chính: đây là bộ phận nhân công tham gia vào quá trình quản lý, điều hành doanh nghiệp Phân loại nguồn nhân lực theo chức năng này có ý nghĩa quan trọng trong việc tập hợp chi phí, tính giá thành và quản lý lao động, quản lý quỹ tiền lương trong doanh nghiệp. * Căn cứ vào nghề nghiệp NNL trong doanh nghiệp được chia thành - Lao động sản xuất kinh doanh chính; - Lao động sản xuất kinh doanh phụ trợ; - Và lao động khác. Phân loại theo tiêu thức này có ý nghĩa lớn trong việc lập kế hoạch lao động trong từng bộ phận của doanh nghiệp như: bộ phận sản xuất kinh doanh trực tiếp; bộ phận quản lý. Mặt khác tạo điều kiện trong việc lập dự toán và thực hiện các dự toán chi phí kinh doanh, quỹ lương,.
Ngoài ra còn có những cách phân loại khác tuỳ theo yêu cầu của quản lý như: phân loại lao động theo năng lực, theo trình độ chuyên môn,. Chất lượng nguồn nhân lực Hiện nay có rất nhiều cách tiếp cận về chất lượng nguồn nhân lực [17]: “Chất lượng nguồn nhân lực là sự lành nghề của lao động nhằm hướng tới việc làm có hiệu quả cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân của người lao động”. ILO nghiêng về sử dụng khái niệm chất lượng nguồn lao động theo nghĩa rộng bao gồm giáo dục, đào tạo nghề nghiệp và tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống. Theo phân tích của Tạ Ngọc Hải, Viện Khoa học tổ chức Nhà nước, dựa trên khái niệm của George T.Milkovich and John W.Boudreau - Human download by : skknchat@gmail.com 11 resources management, tr.9: “Nguồn nhân lực là tổng thể yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài của mỗi cá nhân đảm bảo nguồn sáng tạo khác cho sự thành công đạt được từ mỗi tổ chức" thì “Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố tổng hợp từ nhiều yếu tố bộ phận như trí, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ, của người lao động.
Trong các yếu tố trên trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng để đánh giá và xem xét chất lượng nguồn nhân lực".[7] Theo tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng “CLNL được đánh giá qua trình độ học vấn, chuyên môn và kỹ năng của người lao động cũng như sức khỏe của họ”. Như vậy, cho dù là NL không cụ thể là NL trong một tổ chức hay của toàn XH thì CLNL gồm tiêu chí trình độ học vấn, chuyên môn và kỹ năng (thuộc trí lực) và sức khỏe (thuộc thể lực). Các tiêu chí này được định lượng hóa bằng các cấp bậc học, các bậc đào tạo chuyên môn mà có và có thể đo lường được tương đối dễ dàng hơn so với khái niệm trong Từ điển Tiếng Việt và GS. Phùng Rân khi cho rằng CLNL được đo bằng phẩm chất, giá trị, đạo đức hay năng lực là các tiêu chí rất khó định lượng trong thực tế.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp 1. Khái niệm về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho doanh nghiệp Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng từng con người trong lao động (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý - xã hội) đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển. [17] Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: về cơ bản được hiểu là tăng giá trị cho con người trên các mặt phẩm chất đạo đức, thể chất, năng lực, thẩm mỹ, thông qua các chính sách phát triển nguồn nhân lực giúp con người có những năng lực, phẩm chất mới, cao hơn để có thể hoàn thành tốt hơn mục tiêu của tổ chức và của chính bản thân họ. download by : skknchat@gmail.com 12 Như vậy, “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực về cơ bản được hiểu là tăng giá trị cho con người trên các mặt trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, trình độ, đào tạo chuyên môn kỹ thuật, thâm niên làm việc, Thái độ làm việc của nguồn nhân lực, Tâm lý và khả năng chịu áp lực công việc để có thể hoàn thành tốt hơn mục tiêu của tổ chức và của chính bản thân họ”.
Vai trò nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp - Xuất phát từ vai trò của nguồn nhân lực- yếu tố quyết định của sản xuất Vai trò của con người được thể hiện thông qua vai trò của lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất do xã hội tạo ra để cải tạo tự nhiên, cải tạo thế giới, là biểu hiện của trình độ chinh phục tự nhiên của con người trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Như vậy trong lực lượng sản xuất, con người đóng vai trò là chủ thể tích cực sáng tạo và quyết định nhất. Trong giai đoạn hiện nay, nhiều máy móc thiết bị hiện đại có thể sản xuất ra nhiều sản phẩm có hàm lượng lao động thấp.
Tuy nhiên nếu không có con người vận hành thì chúng cũng trở thành vô ích. Khoa học tưởng chừng như đã làm lu mờ vai trò của nhân tố con người trong lực lượng sản xuất và đang trở thành lực lượng độc lập có xu hướng quyết định vận mệnh của loài người. Nhưng thực chất không phải vậy, dù khoa học công nghệ có vai trò to lớn như thế nào đi chăng nữa thì cũng không thoát khỏi sự điều khiển của con người vì nó là sản phẩm do con người sáng tạo ra. Như vậy con người và khoa học công nghệ có vai trò quyết định trong quá trình sản xuất xã hội.
Xét cho cùng thì khoa học công nghệ cũng chỉ là sản phẩm của con người. Do đó, con người mới chính là yếu tố quyết định nhất của lực lượng sản xuất. - Xuất phát từ thực trạng nguồn lao động của nước ta + Về trí lực của lao động nước ta: mặt bằng dân trí nước ta nhìn chung còn thấp. Nguồn nhân lực yếu kém trong khâu thực hành, trong việc tiếp cận và download by : skknchat@gmail.com 13 làm chủ với công nghệ mới.
Hệ thống giáo dục mặc dù đã có nhiều cải cách nhưng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế.