phần mở đầu và kết luận, Luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng nguồn nhân lực và hoạt động nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực tại Agribank Chi nhánh Sở giao dịch. Chƣơng 3: Các giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực tại Agribank Chi nhánh Sở giao dịch. 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Nhân lực và nguồn nhân lực Nhân lực: Nhân lực là sức lực của con ngƣời, nằm trong mỗi con ngƣời và làm cho con ngƣời hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con ngƣời và đến một mức độ nào đó, con ngƣời đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động. Luận bàn về nhân lực, K.
Mác đề cập “sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể sống của con ngƣời và đƣợc ngƣời đó đem ra vận dụng. Mỗi khi con ngƣời sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó thì phải vận dụng tổng hòa thể lực và trí lực. Sức lao động chỉ là khả năng lao động, còn lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực”. Trong tài liệu Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam, tác giả Đỗ Minh Cƣơng và Nguyễn Thị Doan xác định: “Nhân lực là những cá nhân có nhân cách, có khả năng lao động sản xuất”.
Khái niệm này dƣờng nhƣ còn chƣa đề cập đƣợc hết toàn bộ những cá nhân có tham gia vào lực lƣợng lao động. Với các quan điểm trên, ta có thể thấy rằng, nhân lực là khái niệm gắn liền những tiềm năng bên trong cơ thể sống của một con ngƣời, gắn liền với quá trình lao động sản xuất. Từ sự phân tích trên đây có thể đƣa ra khái niệm nhân lực theo một cách chung nhất theo quan điểm của tác giả nhƣ sau: “Nhân lực là nguồn lực thể hiện trong quá trình lao động của mỗi cá nhân có khả năng lao động”. 10 Nguồn nhân lực: Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực.
Theo Liên Hợp Quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con ngƣời có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nƣớc”. Theo tác giả Mai Quốc Chánh thì nguồn nhân lực trong doanh nghiệp đƣợc hiểu là: “Nguồn lực con ngƣời, là vốn nhân lực của doanh nghiệp bao gồm những ngƣời đang làm việc thực tế trong doanh nghiệp và nguồn nhân lực tiềm năng mà doanh nghiệp đang hƣớng tới trong kế hoạch hóa nguồn nhân lực” [4, tr7]. Nhƣ vậy, tùy theo cách tiếp cận mà có những quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực và có thể nhìn nhận nguồn nhân lực ở phạm vi quốc gia, khu vực hoặc nguồn nhân lực trong một tổ chức. Trong phạm vi luận văn, khái niệm nguồn nhân lực được tác giả tiếp cận là lực lượng người lao động trong doanh nghiệp với khả năng đáp ứng công việc trong quá trình phát triển doanh nghiệp.
Đối với nguồn nhân lực ở mỗi doanh nghiệp và trong mỗi ngành kinh tế cũng vậy đều có những cơ cấu chung nhất định, đó là cơ cấu về tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn kỹ thuật. Tùy mỗi loại hình, mỗi ngành nghề kinh tế mà ngƣời sử dụng nhân lực phải biết hoạch định nguồn nhân lực cho phù hợp với tính chất đặc thù của doanh nghiệp mình. Chất lượng nguồn nhân lực Nguồn nhân lực không chỉ đƣợc xem xét dƣới góc độ số lƣợng mà còn ở khía cạnh chất lƣợng. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về chất lƣợng nguồn nhân lực.
Có quan điểm cho rằng, chất lƣợng nguồn nhân lực là giá trị con ngƣời, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng nhƣ kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con ngƣời trở thành ngƣời lao động có những năng lực và 11 phẩm chất đạo đức, đáp ứng đƣợc những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội. Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO), chất lƣợng nguồn nhân lực là sự lành nghề của lao động nhằm hƣớng tới có việc làm hiệu quả, cũng nhƣ thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân ngƣời lao động. Liên Hợp Quốc lại sử dụng khái niệm chất lƣợng nguồn nhân lực theo nghĩa rộng, bao gồm giáo dục, đào tạo nghề nghiệp và tiềm năng con ngƣời nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và nâng cao chất lƣợng cuộc sống. Nhƣ vậy cách hiểu của Liên Hợp Quốc bao quát hơn và không chỉ nhấn mạnh khía cạnh kinh tế mà còn chú ý hơn đến khía cạnh xã hội của nguồn nhân lực, tăng trƣởng kinh tế, vừa là mục tiêu của tăng trƣởng và phát triển kinh tế.
Theo Phùng Rân thì chất lƣợng nguồn nhân lực đƣợc đo bằng 2 tiêu chí: “là năng lực hoạt động của nguồn nhân lực và phẩm chất đạo đức của nguồn nhân lực đó” [15,tr 2]. Năng lực hoạt động có đƣợc thông qua đào tạo, qua huấn luyện, qua thời gian làm việc đƣợc đánh giá bằng học hàm, học vị, cấp bậc công việc và kỹ năng giải quyết công việc. Phẩm chất đạo đức là khả năng dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và khó có tiêu chí nào làm thƣớc đo để đánh giá phẩm chất đạo đức của nguồn nhân lực. Xét ở phạm vi doanh nghiệp thì chất lƣợng nguồn nhân lực phản ánh khả năng, năng lực cũng nhƣ trình độ chuyên môn của ngƣời lao động, phản ánh trong trình độ kiến thức, kĩ năng và thái độ của ngƣời lao động.
Chất lƣợng lao động tốt sẽ ảnh hƣởng tới việc tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng lao động. Nhƣ vậy, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về chất lƣợng nguồn nhân lực. Tùy theo cách tiếp cận mà các tác giả đƣa ra khái niệm khác nhau về chất lƣợng nguồn nhân lực. Trong phạm vi luận văn này, chất lượng nguồn nhân 12 lực được hiểu là toàn bộ năng lực của lực lượng lao động trong doanh nghiệp, được biểu hiện thông qua ba mặt: thể lực, trí lực, tâm lực.
Ba mặt này có quan hệ chặt chẽ với nhau cấu thành chất lƣợng nguồn nhân lực. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực chính là sự tăng cƣờng sức mạnh và kỹ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất và năng lực tinh thần của lực lƣợng lao động lên đến một trình độ nhất định để lực lƣợng này có thể hoàn thành đƣợc nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong một giai đoạn phát triển của một quốc gia, một tổ chức. Do đó, chất lƣợng nguồn nhân lực chính là động lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Thông qua chất lƣợng nguồn nhân lực thể hiện rõ trình độ phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, chất lƣợng cuộc sống của dân cƣ hay mức độ văn minh của một xã hội.
Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực là tạo ra tiềm năng của con ngƣời thông qua đào tạo, bồi dƣỡng, tự bồi dƣỡng và đào tạo lại, chăm sóc sức khỏe về thể lực và tinh thần, khai thác tối đa tiềm năng đó trong các hoạt động lao động thông qua việc tuyển dụng, sử dụng, tạo điều kiện về môi trƣờng làm việc (phƣơng tiện lao động có hiệu quả và các chế độ chính sách hợp lý,…) môi trƣờng văn hóa, xã hội kích thích động cơ, thái độ làm việc của ngƣời lao động, để họ mang hết sức mình hoàn thành các chức trách, nhiệm vụ đƣợc giao. Từ những quan điểm trên có thể hiểu rằng “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp chính là nâng cao mức độ đáp ứng công việc của người lao động trên các phương diện: thể lực, trí lực và tâm lực so với yêu cầu cụ thể nhằm đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp”. Trong đó: Nâng cao trí lực: Gồm nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, kỹ năng làm việc, kinh nghiệm làm việc…. Đây là yếu tố có tính quyết định căn bản đến nâng cao năng lực làm việc chính là nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
13 Nâng cao thể lực: Bao gồm việc nâng cao sức khỏe, thể chất của nguồn nhân lực. Không có sức khỏe thì bất cứ ai cũng khó có thể hoàn thành đƣợc công việc. Sức khỏe không chỉ biểu hiện chất lƣợng nguồn nhân lực mà còn ảnh hƣởng rất lớn đến chất lƣợng công việc. Sức khỏe bao gồm sức khỏe cả thể chất và tinh thần của nguồn nhân lực.
Nâng cao tâm lực: Gồm thái độ, tinh thần, khả năng chịu áp lực…. Đánh giá đƣợc thái độ trong công việc để biết nguồn nhân lực có nâng cao đƣợc tâm lực hay không thực sự rất khó. Nguồn nhân lực có tích cực làm việc hơn không? Có khả năng kiềm chế cảm xúc tốt hơn không? Hành vi có chuẩn mực hơn không?. Điều này còn chịu sự tác động và ảnh hƣởng của nhiều yếu tố, ảnh hƣởng trƣớc hết chính từ trí lực của nguồn nhân lực đến môi trƣờng sống và làm việc của nguồn nhân lực.
Tiêu chí đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực của doanh nghiệp 1. Tiêu chí đánh giá về thể lực Thể lực nguồn nhân lực là tình trạng sức khỏe của con ngƣời biểu hiện ở sự phát triển bình thƣờng, có khả năng lao động. Đây là cơ sở quan trọng cho hoạt động của thực tiễn con ngƣời có thể đáp ứng đƣợc đòi hỏi về hao phí sức lao động trong quá trình hoạt động kinh doanh với những công việc cụ thể khác nhau và đảm bảo cho con ngƣời có khả năng học tập và lao động lâu dài. Thể lực bao gồm sự hài hòa của cả sức khỏe thể chất lẫn sức khỏe tinh thần, là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất và tinh thần chứ không đơn thuần chỉ là không có bệnh tật.
Sức khỏe thể chất: Là sự cƣờng tráng, thể lực của ngƣời lao động vì trong qua trình hoạt động công việc thì việc ngƣời lao động phải cần đảm bảo đủ sức khỏe để làm việc. Sức khỏe thể chất phản ánh bằng hệ thống các chỉ tiêu cơ bản về sức khỏe, bệnh tật, về cơ sở vật chất và các điều kiện chăm sóc, bảo vệ sức khỏe… Do đó sức khoẻ của nguồn nhân lực đƣợc xem là tiêu chí 14 quan trọng để đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực.