Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lƣợng nguồn nhân lực tại doanh nghiệp. Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 4 - Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. - Chương 3: Thực trạng nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Kinh doanh nƣớc sạch Hải Dƣơng. - Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Kinh doanh nƣớc sạch Hải Dƣơng.
Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về chất lƣợng nguồn nhân lực 1. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời. Nguồn lực đó đƣợc xem xét ở hai khía cạnh.
Trƣớc hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm trong bản thân con ngƣời, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con ngƣời và các nguồn lực khác. Thứ hai, nguồn nhân lực đƣợc hiểu là tổng thể nguồn nhân lực của từng cá nhân con ngƣời. Với tƣ cách là một nguồn nhân lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội đƣợc biểu hiện là số lƣợng và chất lƣợng nhất định tại một thời điểm nhất định.
Khái niệm nguồn nhân lực đƣợc sử dụng rộng rãi ở các nƣớc có nguồn kinh tế phát triển từ những năm giữa thế kỷ thứ XX, với ý nghĩa là nguồn lực con ngƣời, thể hiện một sự nhìn nhận lại vai trò yếu tố con ngƣời trong quá trình phát triển. Nội hàm nguồn nhân lực không chỉ bao hàm những ngƣời trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, cũng không chỉ bao hàm về mặt chất lƣợng mà còn chứa đựng hàm ý rộng hơn. Trƣớc đây, nghiên cứu về nguồn lực con ngƣời thƣờng nhấn mạnh đến chất lƣợng và vai trò của nó trong phát triển kinh tế xã hội. Trong lý thuyết về tăng trƣởng kinh tế, con ngƣời đƣợc coi là một phƣơng tiện hữu hiệu cho việc đảm bảo tốc độ tăng trƣởng kinh tế bền vững thậm chí con ngƣời đƣợc coi là nguồn vốn đặc biệt cho sự phát triển - vốn nhân lực.
Gần đây, các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nƣớc đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau. Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc (2000, tr.3): "Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con ng- Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 6 ƣời hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng". Theo David Begg (1995, tr.282): “Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con ngƣời tích luỹ đƣợc, nó đƣợc đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tƣơng lai. Cũng giống nhƣ nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tƣ trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tƣơng lai”.VS Phạm Minh Hạc (2001, tr.269): “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nƣớc hoặc một địa phƣơng, tức nguồn lao động đƣợc chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những ngƣời lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đƣờng đáp ứng đƣợc yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.
Nguyễn Hữu Dũng (2003, tr.5): "Nguồn nhân lực đƣợc xem xét dƣới hai góc độ năng lực xã hội và tính năng động xã hội. Ở góc độ thứ nhất, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. Xem xét nguồn nhân lực dƣới dạng tiềm năng giúp định hƣớng phát triển nguồn nhân lực để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của nguồn nhân lực thông qua giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ. Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng thì chƣa đủ.
Muốn phát huy tiềm năng đó phải chuyển nguồn nhân lực sang trạng thái động thành vốn nhân lực, tức là nâng cao tính năng động xã hội của con ngƣời thông qua các chính sách, thể chế và giải phóng triệt để tiềm năng con ngƣời. Con ngƣời với tiềm năng vô tận nếu đƣợc tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, đƣợc trả đúng giá trị lao động thì tiềm năng vô tận đó đƣợc khai thác phát huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn". Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 7 Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phƣơng, một quốc gia trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (Thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con ngƣời thuộc các nhóm đó, nhờ tính thống nhất mà nguồn lực con ngƣời biến thành nguồn vốn con ngƣời đáp ứng yêu cầu phát triển. Nguồn nhân lực, theo cách tiếp cận mới, có nội hàm rộng rãi bao gồm các yếu tố cấu thành về số lƣợng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội, sức sáng tạo, truyền thống lịch sử và văn hoá.
Nhƣ vậy, các khái niệm trên cho thấy nguồn lực con ngƣời không chỉ đơn thuần là lực lƣợng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia đƣợc đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội. Khái niệm "nguồn nhân lực" (Human Resoures) đƣợc hiểu nhƣ khái niệm "nguồn lực con ngƣời". Khi đƣợc sử dụng nhƣ một công cụ điều hành, thực thi chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực bao gồm bộ phận dân số trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và những ngƣời ngoài độ tuổi lao động có tham gia lao động - hay còn đƣợc gọi là nguồn lao động. Bộ phận của nguồn lao động gồm toàn bộ những ngƣời từ độ tuổi lao động trở lên có khả năng và nhu cầu lao động đƣợc gọi là lực lƣợng lao động.
Xem xét dƣới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhƣng những khái niệm này đều thống nhất nội dung cơ bản: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Con ngƣời với tƣ cách là yếu tố cấu thành lực lƣợng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ đƣợc xem xét đơn thuần ở góc độ số lƣợng hay chất lƣợng mà là sự tổng hợp của cả số lƣợng và chất lƣợng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con ngƣời với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội. Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 8 Vì vậy, có thể định nghĩa nguồn nhân lực là tổng thể số lƣợng và chất lƣợng con ngƣời với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con ngƣời và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực * Khái niệm về chất lượng Chất lƣợng là một khái niệm còn nhiều tranh cãi vì có rất nhiều quan điểm khác nhau.
Tùy từng lĩnh vực khác nhau lại có những cách hiểu khác nhau về chất lƣợng. Ngƣời sản xuất hàng hóa cho rằng chất lƣợng là phải đảm bảo sự hài lòng theo yêu cầu của ngƣời sử dụng hàng hóa đó. Ngƣời tiêu dùng lại quan niệm chất lƣợng là tất cả những chức năng, tác dụng, hình thức, tuổi thọ.của sản phẩm thỏa mãn đƣợc mong muốn tiêu dùng của họ. Thậm chí, ngƣời tiêu dùng còn so sánh sản phẩm đó với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, so sánh cả về giá cả để đƣa ra những nhu cầu, đòi hỏi đƣợc đáp ứng và quy các tiêu chí đó về chất lƣợng.
Nhƣ vậy, mặc dù chƣa chỉ ra một cách chi tiết và cụ thể các tiêu chí để thể hiện chất lƣợng của một đối tƣợng cần có, nhƣng cũng có thể thấy cái đích hƣớng đến của chất lƣợng là gì. Tổ chức quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO đã đƣa ra khái niệm đƣợc chấp nhận và tƣơng đối thống nhất: Chất lƣợng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan (ISO 9001:2008). Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) 5814:1994 phù hợp với ISO 8402:1994: Chất lƣợng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tƣợng) tạo cho thực thể (đối tƣợng) đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn. Các thực thể này đƣợc hiểu là các sản phẩm theo nghĩa rộng: một hoạt động, một tổ chức hay một cá nhân.
Các sản phẩm này đáp ứng nhu cầu của ngƣời Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 9 tiêu dùng thông qua các đặc tính của mình, đặc tính đó có thể thể hiện bằng phần cứng - giá trị hình thái vật chất và phần mềm - giá trị tinh thần. Phần giá trị tinh thần này thông thƣờng chiếm từ 60-80% giá trị sản phẩm, đặc biệt có thể lên tới 90%. Điều này không cố định nhƣ doanh nghiệp tập hợp chi phí kinh doanh để tính giá trị vật chất của sản phẩm, mà phụ thuộc và ngƣời tiêu dùng thông qua việc sử dụng sản phẩm, mà mức độ hài lòng của ngƣời tiêu dùng lại phụ thuộc vào sự hiểu biết, trình độ của ngƣời sử dụng và bảo quản sản phẩm. Vì vậy còn có quan điểm chất lƣợng là mức độ nhiều hay ít của một tập hợp các đặc tính vốn có của đối tƣợng đáp ứng các yêu cầu (Tiêu chuẩn VN ISO 9000:2000).
* Một số đặc điểm của chất lượng - Chất lƣợng đƣợc đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu.