phần mở đầu, kết luận và các sơ đồ, bảng biểu luận văn bao gồm 3 chƣơng Chƣơng 1. Lý luận cơ bản về nâng cao chất lƣợng kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán. Thực trạng nâng cao chất lƣợng kinh doanh chứng khoán của Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội. Giải pháp nâng cao chất lƣợng kinh doanh chứng khoán của Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội.
1 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG KINH DOANH CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN Chƣơng 1 luận văn trình bày những lý luận cơ bản về CTCK, nâng cao chất lƣợng kinh doanh chứng khoán và các nhân tố ảnh hƣởng đến nâng cao chất lƣợng kinh doanh chứng khoán của CTCK. CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. Khái niệm công ty chứng khoán Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên thị trƣờng chứng khoán. Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian ở TTCK, thực hiện trung gian tài chính thông qua các hoạt động chủ yếu nhƣ mua bán chứng khoán, môi giới chứng khoán cho khách hàng để hƣởng hoa hồng, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tƣ vấn đầu tƣ chứng khoán.
Ở Việt Nam căn cứ theo Quy chế Tổ chức và hoạt động của Công ty chứng khoán ban hành kèm theo Quyết định số 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007 của Bộ trƣởng Bộ Tài chính, công ty chứng khoán đƣợc định nghĩa nhƣ sau: Công ty chứng khoán là tổ chức có tƣ cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tƣ vấn đầu tƣ chứng khoán. Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian, đƣợc thành lập khi có sự chấp thuận của Ủy ban chứng khoán Nhà nƣớc. Để đƣợc cấp giấy phép thành lập và hoạt động, công ty chứng khoán phải đảm bảo các yêu cầu về quyền sử dụng trụ sở làm việc tối thiểu 01 năm, trong đó diện tích làm sàn giao dịch phục vụ nhà 2 đầu tƣ tối thiểu 150m ; có đầy đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ hoạt động kinh doanh, bao gồm: sàn giao dịch phục vụ khách hàng, thiết bị văn phòng, hệ thống máy tính cùng các phần mềm thực hiện hoạt động giao dịch chứng khoán, trang 2 thông tin điện tử, bảng tin để công bố thông tin cho khách hàng, hệ thống kho, két bảo quản chứng khoán, tiền mặt, tài sản có giá trị khác và lƣu giữ tài liệu, chứng từ giao dịch đối với công ty chứng khoán có nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán; đáp ứng mức vốn pháp định theo từng loại hình kinh doanh và nhân viên công ty phải có chứng chỉ hành nghề. Chức năng của công ty chứng khoán Công ty chứng khoán là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của thị trƣờng chứng khoán nói riêng.
Nhờ các công ty chứng khoán mà chứng khoán đƣợc lƣu thông từ nhà phát hành tới ngƣời đầu tƣ qua đó huy động nguồn vốn từ nơi nhàn rỗi để phân bổ vào những nơi sử dụng có hiệu quả. Chức năng cơ bản của công ty chứng khoán: Tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa ngƣời có tiền nhàn rỗi đến ngƣời sử dụng vốn (thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh phát hành). Cung cấp cơ chế giá cả cho giao dịch (thông qua hệ thống khớp giá hoặc khớp lệnh). Tạo ra tính thanh khoản cho chứng khoán (hoán chuyển từ chứng khoán ra tiền mặt, và ngƣợc lại từ tiền mặt ra chứng khoán một cách dễ dàng).
Góp phần điều tiết và bình ổn thị trƣờng (thông qua hoạt động tự doanh hoặc vai trò nhà tạo lập thị trƣờng). Vai trò của công ty chứng khoán Các công ty chứng khoán có vai trò quan trọng đối với những chủ thể khác nhau trên thị trƣờng chứng khoán. Đối với các tổ chức phát hành Một trong những nguyên tắc hoạt động của thị trƣờng chứng khoán có tổ chức là nguyên tắc trung gian. Nguyên tắc này yêu cầu nhà đầu tƣ và những nhà phát hành không đƣợc mua bán trực tiếp chứng khoán mà phải thông qua các trung gian mua bán.
Các công ty chứng khoán sẽ thực hiện vai trò trung gian cho cả ngƣời đầu tƣ và nhà phát hành. Và khi thực hiện công việc này, công ty chứng khoán đã tạo ra cơ chế huy động vốn cho nền kinh tế thông qua thị trƣờng chứng khoán. 3 Đối với các nhà đầu tư Thông qua các hoạt động nhƣ môi giới, tƣ vấn đầu tƣ, quản lý danh mục đầu tƣ, công ty chứng khoán có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, do đó nâng cao hiệu quả các khoản đầu tƣ. Đối với hàng hoá thông thƣờng, mua bán qua trung gian sẽ làm tăng chi phí cho ngƣời mua và ngƣời bán.Tuy nhiên, đối với thị trƣờng chứng khoán, sự biến động thƣờng xuyên của giá cả chứng khoán cũng nhƣ mức độ rủi ro cao sẽ làm cho những nhà đầu tƣ tốn kém chi phí, công sức và thời gian tìm hiểu thông tin trƣớc khi quyết định đầu tƣ.
Nhƣng thông qua các công ty chứng khoán, với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp các nhà đầu tƣ thực hiện các khoản đầu tƣ một cách hiệu quả. Đối với thị trường chứng khoán: công ty chứng khoán thể hiện hai vai trò chính nhƣ sau: Góp phần tạo lập giá cả; điều tiết thị trƣờng. Giá cả chứng khoán là do thị trƣờng quyết định, tuy nhiên, để đƣa ra mức giá cuối cùng, ngƣời mua và ngƣời bán phải thông qua các công ty chứng khoán vì họ không đƣợc tham gia trực tiếp vào quá trình mua bán. Các công ty chứng khoán là những thành viên của thị trƣờng, do vậy họ cũng góp phần tạo lập giá cả thị trƣờng thông qua đấu giá.
Trên thị trƣờng sơ cấp, các công ty chứng khoán cùng với các nhà phát hành đƣa ra mức giá đầu tiên. Chính vì vậy, giá cả của mỗi loại chứng khoán giao dịch đều có sự tham gia định giá của các công ty chứng khoán. Các công ty chứng khoán còn thể hiện vai trò lớn hơn khi tham gia điều tiết thị trƣờng. Để bảo vệ những khoản đầu tƣ của khách hàng và bảo vệ lợi ích của chính mình, nhiều công ty chứng khoán đã giành một tỷ lệ nhất định các giao dịch để thực hiện vai trò bình ổn thị trƣờng.
Thị trƣờng chứng khoán có vai trò là môi trƣờng làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính. Nhƣng các công ty chứng khoán mới là ngƣời thực hiện tốt vai trò đó vì công ty chứng khoán tạo ra cơ chế giao dịch trên thị trƣờng. Trên thị trƣờng sơ cấp, do thực hiện các hoạt động nhƣ bảo lãnh phát hành, chứng khoán hoá, các công ty chứng khoán không những huy động một lƣợng vốn lớn đƣa vào sản xuất kinh doanh cho nhà phát hành mà còn làm tăng tính thanh khoản của các 4 tài sản tài chính đƣợc đầu tƣ vì các chứng khoán qua đợt phát hành sẽ đƣợc mua bán giao dịch trên thị trƣờng thứ cấp. Điều này làm giảm rủi ro, tạo tâm lý yên tâm cho ngƣời đầu tƣ.
Trên thị trƣờng thứ cấp, do thực hiện các giao dịch mua và bán các công ty chứng khoán giúp ngƣời đầu tƣ chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngƣợc lại. Đối với các cơ quan quản lý thị trường. CTCK có vai trò cung cấp thông tin về thị trƣờng chứng khoán cho các cơ quan quản lý thị trƣờng. Các CTCK thực hiện đƣợc vai trò này bởi vì họ vừa là ngƣời bảo lãnh phát hành cho các chứng khoán mới, vừa là trung gian mua bán chứng khoán và thực hiện các giao dịch trên thị trƣờng.
Một trong những yêu cầu của thị trƣờng chứng khoán là các thông tin cần phải đƣợc công khai hoá dƣới sự giám sát của các cơ quan quản lý thị trƣờng. Việc cung cấp thông tin vừa là quy định của hệ thống luật pháp, vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của các công ty chứng khoán vì công ty chứng khoán cần phải minh bạch và công khai trong hoạt động. Các thông tin công ty chứng khoán có thể cung cấp bao gồm thông tin về các giao dịch mua, bán trên thị trƣờng, thông tin về các cổ phiếu, trái phiếu và tổ chức phát hành, thông tin về các nhà đầu tƣ v.Nhờ các thông tin này, các cơ quan quản lý thị trƣờng có thể kiểm soát và chống các hiện tƣợng thao túng, lũng đoạn, bóp méo thị trƣờng. Tóm lại, công ty chứng khoán là một tổ chức chuyên nghiệp trên thị trƣờng chứng khoán, có vai trò cần thiết và quan trọng đối với các nhà đầu tƣ, các nhà phát hành, các cơ quan quản lý thị trƣờng.
CÁC NGHIỆP VỤ KINH DOANH CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. Các nghiệp vụ chính 1. Nghiệp vụ môi giới chứng khoán Nghiệp vụ môi giới chứng khoán là việc công ty chứng khoán làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng để hƣởng hoa hồng. Theo đó, công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao 5 dịch tại SGDCK hoặc thị trƣờng OTC mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với kết quả giao dịch của mình.
Thông qua hoạt động môi giới, công ty chứng khoán sẽ chuyển đến khách hàng các sản phẩm, dịch vụ tƣ vấn đầu tƣ và kết nối giữa nhà đầu tƣ bán chứng khoán với nhà đầu tƣ mua chứng khoán.và trong những trƣờng hợp nhất định, hoạt động môi giới sẽ trở thành ngƣời bạn, ngƣời chia sẻ những lo âu, căng thẳng và đƣa ra những lời động viên kịp thời cho nhà đầu tƣ, giúp nhà đầu tƣ có những quyết định tỉnh táo. Nghiệp vụ tƣ vấn đầu tƣ chứng khoán Tƣ vấn đầu tƣ chứng khoán là các hoạt động tƣ vấn liên quan đến chứng khoán hoặc công bố và phát hành các báo cáo phân tích, đƣa ra lời khuyên có liên quan đến chứng khoán hoặc thực hiện một số công việc có tính chất dịch vụ cho khách hàng. Tƣ vấn đầu tƣ bao gồm tƣ vấn mua bán chứng khoán, tạo dựng danh mục đầu tƣ và quản trị điều hành tài sản đầu tƣ. Theo Luật Chứng khoán của Việt Nam ban hành ngày 29/06/2006 thì tƣ vấn đầu tƣ chứng khoán là việc công ty chứng khoán cung cấp cho nhà đầu tƣ kết quả phân tích, công bố báo cáo phân tích và khuyến nghị liên quan đến chứng khoán.