CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ HUY ĐỘNG VỐN KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về vốn và huy động vốn 1.1 Khái niệm hoạt động huy động vốn của NHTM “Nguồn vốn của NHTM là toàn bộ nguồn tiền tệ mà ngân hàng tạo lập hoặc huy động được để cho vay, đầu tư và thực thi các dịch vụ ngân hàng” - Giáo trình quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại - Trường Đại học Thương mại. Là các hoạt động thu hút nguồn vốn nhàn rỗi của các cá nhân, tổ chức kinh tế, xã hội dưới dạng tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, phát hàng các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác, tạo nên một nguồn tài chính được ngân hàng sử dụng để kinh doanh sinh lời và trả lại một phần lợi nhuận này cho người gửi thông qua công cụ lãi suất 1.2 Vai trò của hoạt động huy động vốn Huy động vốn là một phần không thể thiếu trong hoạt động ngân hàng. Huy động vốn thông qua việc thu nhận tiền gửi đã được coi là nhiệm vụ chính của ngành ngân hàng.
Huy động vốn là một yếu tố không thể thiếu để tăng nguồn tiền ngân hàng để phục vụ hiệu quả hơn. Huy động vốn đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển tất cả các yếu tố khác của nền kinh tế , Shettar (2014). Theo Banson (2013), huy động vốn là sự thu thập tiền mặt hoặc tiền của một tổ chức tài chính từ công chúng thông qua số tiền tiết kiệm hoặc các công cụ tương tự. Thông thường mức độ tiền gửi nhiều hay ít sẽ đánh giá về việc kiểm soát chi phí và hoạt động hiệu quả của NH, điều này có thể làm tăng tính bền vững và lợi nhuận của các tổ chức nhận tiền gửi thông qua huy động vốn, Garo (2015).
Richard và cộng sự. (2015), xác định huy động tiền gửi là chức năng chính của tổ chức tài chính. Huy động vốn dư thừa từ các tác nhân kinh tế này đến các tác nhân kinh tế thâm hụt là quá trình huy động tiền gửi và do đó nó ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của một nền kinh tế. Đặc điểm của Huy động vốn NHTM Theo cách nói truyền thống, một ngân hàng có 2 lĩnh vực kinh doanh nòng cốt: Huy động vốn và lựa chọn các tài sản sinh lời để đầu tư nguồn vốn huy động được.
Các 6 ngân hàng luôn nỗ lực tạo ra lợi nhuận từ hai hoạt động kinh doanh này. Huy động vốn là hoạt động thu hút nguồn tiền nhàn rỗi từ nền kinh tế thông qua các hình thức tiết kiệm định kỳ, phát hành giấy tờ có giá và các hình thức khác để tạo nguồn cho vay của NHTM Hoạt động huy động vốn là một hoạt động cơ bản nhằm tạo ra các tiền đề cho các hoạt động còn lại của ngân hàng. Nó quyết định quy mô, phạm vi hoạt động và quy mô mở rộng tín dụng của ngân hàng; nó quyết định đến khả năng thanh toán, chi trả đảm bảo hoạt động cho ngân hàng trên thị trường và đặc biệt nó quyết định đến năng lực cạnh tranh của NHTN trong nền kinh tế mở của như hiện nay. Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất hiện nay của NHTM.
Hoạt động này mang lại nguồn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động khác như cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng. Nhìn vào bảng cân đối tài sản của NHTM, chúng ta thấy rằng nghiệp vụ huy động vốn được phản ánh bên phần tài sản nợ. Do đó huy động vốn còn được gọi là tài sản nợ. Đặc điểm của huy động vốn bao gồm các đặc điểm sau: - Quy mô của nguồn vốn huy động rất lớn so với các nguồn vốn khác, thông thường chiếm 70-80% tổng nguồn vốn huy động và là mục tiêu tăng trưởng hàng năm - Bản chất của huy động vốn là tài sản thuộc các sở hữu khác nhau, ngân hàng chỉ có quyền sử dụng không có quyền sở hữu., phải có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút trước hạn.
Vì vậy ngân hàng không được phép sử dụng hết số vốn đó và hoạt động kinh doanh mà phải dự trữ với một tỷ lệ hợp lý để đảm bảo khả năng thanh khoản. - Đây là nguồn vốn phải dự trữ bắt buộc nên chi phí cho nguồn này thường cao hơn các nguồn khác. Ngoài ra Ngân hàng phải mua bảo hiểm tiền gửi cũng làm chi phí huy động vốn cao hơn - Nguồn vốn này thường nhay cảm với biến động của nền kinh tế như: tỷ giá, lãi suất, thu nhập, chu kỳ tiêu dung… - Sự thay đổi của nguồn vốn ngắn hạn sẽ làm thay đổi cầu thanh khoản của ngân hàng. Việc nhận thức đúng đắn vai trò của huy động vốn sẽ giúp các nhà quản trị ngân hàng đưa ra được các biện pháp, chiến lược mở rộng hay thu hẹp để phù hợp với mục 7 tiêu hoạt động của ngân hàng trong thời ký đó như thế nào, mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho ngân hàng.
Tuy nhiên các nhà quản trị ngân hàng cũng phải cân nhắc sao cho hoạt động đó mang lại hiệu quả cao nhất, tránh tình trạng ứ đọng không cần thiết.Các hình thức huy động vốn Nguồn vốn ngân hàng đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải có vốn. NHTM được coi là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, do vậy việc tiến hành các biện pháp nghiệp vụ tạo lập nguồn vốn để tổ chức hoạt động kinh doanh là vấn đề vô cùng quan trọng đối với mỗi NHTM. Thông qua các nghiệp vụ đa dạng và phong phú trong lĩnh vực nguồn vốn và tài sản Nợ, mỗi NHTM đã tạo lập cho mình một khối lượng vốn cần thiết để đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh doanh. Thành phần nguồn vốn của NHTM bao gồm: Vốn điều lệ và các quỹ; Vốn huy động; Vốn đi vay; Vốn khác.
Vốn điều lệ Vốn điều lệ ban đầu được hình thành từ các nguồn khác nhau, tùy thuộc vào hình thức sở hữu của ngân hàng đó, cụ thể là: - NHTM nhà nước: Vốn điều lệ do ngân sách nhà nước cấp. - NHTM cổ phần: Vốn điều lệ được hình thành thông qua hoạt động phát hành cổ phiếu trên thị trường. - NHTM liên doanh: Vốn điều lệ do phía Việt Nam và phía nước ngoài đóng góp theo tỷ lệ tham gia đã thỏa thuận trong điều lệ. - Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: Vốn do ngân hàng mẹ ở chính quốc gia chuyển qua.
- Ngân hàng 100% vốn nước ngoài: Vốn điều lệ do tổ chức thành lập tự đáp ứng. Vốn điều lệ phải đạt mức tối thiểu theo quy định của pháp luật (được gọi là vốn pháp định). Ở Việt Nam cũng như tại các quốc gia trên thế giới đều có quy định vốn pháp định cho mỗi loại hình ngân hàng. Mức vốn pháp định có thể thay đổi tùy mỗi thời kỳ, phù hợp với yêu cầu quản lý và phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia.
Vốn điều lệ của mỗi ngân hàng thương mại không phải là một con số bất biến mà có thể thay đổi theo xu 8 hướng tăng lên nhờ được cấp bổ sung, hoặc phát hành cổ phiếu bổ sung, hoặc được kết chuyển từ quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ theo quy định của luật pháp. Tuy vốn điều lệ không phải là nguồn vốn chủ lực trực tiếp phục vụ cho nhu cầu kinh doanh tiền tệ đối với mỗi NHTM. Song, vốn điều lệ lại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng xuất phát từ mục đích sử dụng đó. Trước hết, vốn điều lệ được sử dụng để xây dựng, mua sắm tài sản cố định, trang thiết bị chuyên dùng … tức là tạo nên cơ sở vật chất ban đầu phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Ngoài ra các NHTM còn được phép sử dụng vốn điều lệ để góp vốn, liên doanh, đầu tư, cấp vốn cho các công ty trực thuộc và thực hiện các hoạt động kinh doanh khác. Điều này cũng có nghĩa là mỗi NHTM có vốn điều lệ lớn sẽ có khả năng để đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của mình. Vốn điều lệ cũng là yếu tố làm cơ sở để xác định các mức khống chế cho vay tối đa đối với mỗi khách hàng, mức vốn có thể huy động … được quy định bởi pháp luật. Vốn điều lệ cũng là yếu tố quan trọng tạo niềm tin, uy tín ban đầu của ngân hàng đối với khách hàng.2 Các quỹ của ngân hàng Được hình thành khi ngân hàng đã đi vào hoạt động bao gồm các quỹ như: Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, các quỹ dự phòng, quỹ đầu tư phát triển, quỹ khen thưởng phúc lợi và các quỹ khác.
Theo quy định 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/04/2005 của Ngân hàng Nhà nước, vốn tự có của NHTM gồm: - Vốn tự có cơ bản (Vốn cấp 1): Vốn điều lệ thực có (vốn đã được cấp, vốn đã góp), quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ, lợi nhuận không chia. - Vốn tự có bổ sung (vốn cấp 2): phần giá trị tăng thêm của tài sản cố định và chứng khoán đầu tư được định giá lại (kể cả cổ phiếu đầu tư, vốn góp), trái phiếu chuyển đổi hoặc cổ phiếu ưu đãi do tổ chức tín dụng phát hành có thời hạn dài. Để đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, Điều 4 Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN quy định phải duy trì tỷ lệ tối thiểu 8% giữa vốn tự có so với tài sản Có rủi ro.3 Vốn đi vay Trong trường hợp vốn tự có và vốn huy động không đáp ứng đủ nhu cầu kinh doanh, NHTM có thể vay vốn của các chủ thể sau: - Vay của Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn như chiết khấu, tái chiết khấu các chứng từ có giá; cầm cố các giấy tờ có giá; vay lại theo hợp đồng tín dụng - Vay của các NHTM khác qua thị trường liên ngân hàng. - Vay của các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế.
Nguồn vốn khác Vốn tiếp nhận từ các tổ chức tài chính, các quỹ, Ngân sách nhà nước để thực hiện các chương trình, dự án về phát triển kinh tế xã hội, cải tạo môi trường - sinh thái, vốn tiếp nhận để cho vay ủy thác; vốn chiếm dụng của khách hàng trong quá trình hoạt động của ngân hàng (đại lý, chuyển tiền, các dịch vụ ngân hàng …) (Trần Huy Hoàng (2010)).